“Hãy ngăn Israel lại”, đó cũng là vì lợi ích của chính người Israel!

IDF soldiers patrol the streets of the West Bank village of Qusra, south of Nablus, August 13, 2026. | AP/Majdi Mohammed
Dư luận quốc tế đang bất đồng và phẫn nộ về sự lộng hành của những người Do thái ở Israel, khi bao vây các làng mạc Palestine tại miền Bờ Tây từ nhiều ngày nay.

Phúc Nhạc | RVA

Trong một bài phổ biến hôm 17 tháng Tám vừa qua, trang mạng “Kim chỉ nam mới hằng ngày” (La Nuova Bussola quotidiana), ký giả Scopelliti coi đây là một thảm trạng nhân đạo và viết:

“Việc những người Israel ấy bao vây và tấn công làng mạc của người Palestine nói trên chỉ là hành động mới nhất trong một chuỗi dài bạo lực. Cần phải ngăn chặn chính phủ và bộ máy quân sự Israel khi họ gây ra những sự tàn phá không thể chấp nhận được; nhưng trên hết, cần phải phá vỡ chuỗi kinh hoàng đang biến người Israel và người Palestine thành những tù nhân của lòng hận thù, bởi vì tất cả mọi người đều có quyền được sống trong hòa bình.

Một gia đình Palestine bị bao vây trong nhiều ngày và buộc phải sống co cụm trong chính ngôi nhà của mình; những đồn điền ôliu bị phóng hỏa, nhà cửa bị phá hủy, chủ nhân bị đe dọa và buộc phải rời bỏ nhà cửa. Đó là những gì đang xảy ra tại Palestine, trong sự im lặng hoàn toàn và, quá thường xuyên, với thái độ dung túng đối với chính phủ Netanyahu.

“Hãy ngăn Israel lại”: đó là tiếng kêu đang vang lên từ một vùng đất có gần sáu triệu người sinh sống giữa miền Bờ Tây và Dải Gaza. Đến một lúc nào đó, những lời nói và lời kêu gọi phải chấm dứt, chỉ còn lại thực tại với những người chết, những đống đổ nát, những gia đình tan vỡ, những trẻ mồ côi, những người buộc phải chạy trốn, các bệnh viện và cơ sở hạ tầng bị tàn phá: một dân tộc đã phải trả một cái giá quá đắt trong thời gian quá lâu. Người ta có thể viết ra cả dòng sông chữ nghĩa, lựa chọn cẩn thận những cách diễn đạt thận trọng nhất, và ẩn mình sau những tuyên bố ngoại giao hay những công thức chính trị đúng đắn, nhưng không điều gì có thể xóa bỏ những gì đang diễn ra trước mắt tất cả mọi người. Gaza và Palestine không phải là những khái niệm trừu tượng, cũng không phải là một quân cờ quan trọng trên bàn cờ ngoại giao, mà là những nơi có những con người bằng xương bằng thịt đang sinh sống.

Nhưng bây giờ, thế là đủ. Đủ sự thờ ơ, đủ việc bình thường hóa nỗi kinh hoàng, đủ với quan niệm rằng mỗi nạn nhân mới chỉ là một con số nữa trong một bản thống kê. Đằng sau những con số ấy - mà đáng tiếc là có người còn phủ nhận - là những đứa trẻ sẽ không bao giờ còn gặp lại cha hoặc mẹ, những người già đã mất tất cả, những gia đình không còn nhà để ở, những người đang tìm kiếm nước, thức ăn, thuốc men hoặc một nơi an toàn để ngủ. Khi một thảm kịch đạt đến quy mô như vậy, chỉ tuyên bố rằng mình lo ngại, rằng mình mong muốn một lệnh ngừng bắn, thì không còn đủ nữa”.

Cộng đồng quốc tế phải hành động

Nói “Hãy ngăn Israel lại” không có nghĩa là lên án người Israel. Không có nghĩa là căm ghét người Do Thái. Đó là yêu cầu chấm dứt các hành động của một chính phủ và một bộ máy quân sự, khi những hành động ấy gây ra sự tàn phá không thể chấp nhận được. Đó là đòi hỏi phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ dân thường, bảo đảm việc tiếp cận viện trợ nhân đạo và xác định trách nhiệm đối với những vi phạm đã xảy ra.

An ninh của người Israel là một quyền. Nhưng an ninh của người Palestine cũng vậy. Mạng sống này không có giá trị cao hơn mạng sống kia. Và cũng không thể kể câu chuyện đơn giản rằng chỉ có một phía phải chịu đau khổ. Những nạn nhân Israel trong các cuộc tấn công của Hamas xứng đáng được tưởng nhớ, được tôn trọng và được thực thi công lý; người Israel có quyền được sống mà không phải sợ hãi các vụ tấn công khủng bố.

Nhưng không một sự thật nào trong số đó có thể trở thành giấy phép để gây ra đau khổ tập thể cho cả một dân tộc. Một thảm kịch không xóa bỏ một thảm kịch khác. Một tội ác không làm cho một tội ác khác trở nên hợp pháp. Và nỗi đau của một người mẹ Israel không có giá trị lớn hơn nỗi đau của một người mẹ Palestine.

Có một thực tại đáng khiến mọi lương tâm phải suy ngẫm sâu sắc: những đứa trẻ Palestine đã chứng kiến cha mẹ mình chết sẽ mang trong lòng những vết thương rất khó chữa lành. Các em sẽ còn nhớ những ngôi nhà bị phá hủy, những cuộc chạy trốn, nỗi sợ hãi, những tiếng la hét và thi thể bất động của người thân.

Nhưng nguy cơ là nỗi đau ấy sẽ biến thành lòng hận thù đối với những người bị xem là nguyên nhân gây ra những cái chết đó, từ đó nuôi dưỡng trong các thế hệ mới sự oán giận và khát vọng trả thù. Một đứa trẻ mất cha mẹ là mất đi một phần tương lai của chính mình. Và một vết thương như thế, nếu không tìm được công lý, sự thật và cơ hội chữa lành, có thể biến thành sự cay đắng, oán hận và được truyền lại cho thế hệ kế tiếp.

Nhưng nguyên tắc tương tự cũng phải được áp dụng, không có ngoại lệ, cho phía bên kia. Có những trẻ em Israel lớn lên trong chấn thương do các vụ tấn công, những cuộc thảm sát, tiếng còi báo động và nỗi sợ hãi. Các em cũng có nguy cơ học được rằng người Palestine đơn giản chỉ là một kẻ thù. Và đây chính là cái bẫy khủng khiếp nhất: mỗi người chết tạo ra đau khổ, mỗi đau khổ có thể sinh ra hận thù, mỗi hận thù có thể dẫn đến một cái chết khác. Đó là một cơ chế địa ngục biến những đứa con thành những người thừa kế của một cuộc chiến mà chúng chưa bao giờ lựa chọn. Nếu chúng ta không phá vỡ chuỗi này, thì chúng ta đang chuẩn bị tương lai nào cho những trẻ em Palestine và Israel?

Và chính khi nghĩ đến những đứa trẻ ấy, người ta phải tự hỏi việc nói đến những sự vinh danh có ý nghĩa gì. Đề xuất đang được lưu truyền về việc trao giải Nobel Hòa bình cho những trẻ em Gaza có thể được xem như một cử chỉ mang tính biểu tượng, nhưng một giải thưởng, dù danh giá đến đâu, cũng không thể trả lại những người đã chết. Nó không xây dựng lại một ngôi nhà. Nó không mở lại một trường học. Nó không chữa lành một vết thương. Nó không bảo đảm rằng một đứa trẻ có thể ngủ mà không sợ hãi. Nobel không phải là điều mà Gaza cần. Và nếu một sáng kiến như vậy chỉ nhằm làm nhẹ bớt lương tâm của những người thực hiện nó trong khi thảm kịch vẫn tiếp diễn, thì nó có nguy cơ trở thành một bức ảnh phản chiếu sự bất lực của chúng ta.

Ủng hộ Gaza có nghĩa là làm một điều khó khăn hơn nhiều: giúp một dân tộc được sống. Điều đó có nghĩa là bảo đảm an ninh, lương thực, nước uống, chăm sóc y tế, trường học, nhà ở, tự do và một tương lai. Có nghĩa là cho phép người Palestine được sống trên chính quê hương mình mà không bị chiến tranh và áp bức nghiền nát. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là phải có can đảm nói rõ, không mập mờ: người Palestine không được bị áp bức, dù bởi các chính sách và sự hiếu chiến của Israel, hay bởi bạo lực và sự đàn áp của Hamas. Họ không được bị buộc phải lựa chọn mình sẽ phải chịu nỗi sợ nào. Họ không cần một ông chủ nhân từ hơn. Họ cần được tự do. Điều này đúng với Gaza và đúng với toàn bộ Palestine. Không một nền hòa bình nào có thể là đích thực nếu nó được xây dựng trên sự khuất phục của một dân tộc.

Hòa bình phải trở thành một điều kiện sống cụ thể, một sự bảo đảm cho một cuộc sống bình thường, một quyền được có tương lai của chính mình. Hòa bình phải có nghĩa là công lý, tự do và phẩm giá cho người Palestine, nhưng đồng thời cũng phải có nghĩa là an ninh cho người Israel. Hòa bình phải có nghĩa là chấm dứt việc sử dụng bạo lực như một công cụ thường trực của chính trị.

Nếu chúng ta thực sự tin vào quyền con người, thì các quyền ấy phải có giá trị đối với tất cả mọi người. Nếu chúng ta thực sự tin vào công lý, thì công lý phải dành cho tất cả mọi người. Nếu chúng ta nói “không bao giờ nữa”, thì “không bao giờ nữa” ấy phải bao gồm mọi đứa trẻ bị giết, bất kể quốc tịch, tôn giáo hay lá cờ tung bay trên mái nhà của em. Có những thời điểm không còn có thể tìm kiếm những lời lẽ dễ nghe, hay thứ “đúng đắn về mặt chính trị” không làm ai khó chịu. Có những lúc cần phải gọi sự việc bằng đúng tên của nó: Người dân Palestine có quyền được sống. Gaza có quyền được sống. Palestine có quyền tồn tại. Israel có quyền được sống”.

(La Nuova Bussola Quotidiana 17-8-2026)

Tags
Vietnamese Survey popup