Tiếp kiến chung của Đức Thánh cha: Giáo hội là dấu chỉ của niềm hy vọng, lời tiên báo về sự hiệp nhất mà Thiên Chúa dành cho mọi người
Lúc 10 giờ sáng thứ Tư, ngày 11 tháng Ba vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến chung khoảng hai mươi ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô. Đây là buổi tiếp kiến chung thứ mười của ngài từ đầu năm đến nay. Hiện diện trong dịp này cũng có khoảng mười giám mục hướng dẫn các phái đoàn giáo phận liên hệ.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đức Thánh cha xuất hiện trước 15 phút ở Quảng trường, dành 15 phút đi xe, tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu, trước khi lên lễ đài.
Sau lời chào phụng vụ mở đầu của Đức Thánh cha, mọi người đã lắng nghe các độc viên công bố, bằng chín ngôn ngữ khác nhau, một trong sách Ngôn sứ Giêrêmia (Gr 31,33):
“Đây sẽ là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày ấy - sấm ngôn của Đức Chúa: Ta sẽ đặt luật của Ta trong lòng họ, sẽ khắc ghi vào tâm khảm họ. Ta sẽ là Thiên Chúa của họ, và họ sẽ là dân của Ta.”
Huấn giáo
Trong bài huấn giáo tiếp đó, Đức Thánh cha tiếp tục loạt bài về Công đồng chung Vatican II. Bài giáo lý này nói về Hiến chế Tín lý “Lumen gentium”, Ánh sáng muôn dân, và có tựa đề là: “Giáo Hội - Dân Thiên Chúa”.
Mở đầu bài huấn giáo, Đức Thánh cha nói:
“Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tiếp tục suy tư về Hiến chế Tín lý Lumen gentium (LG), Ánh sáng muôn dân, hôm nay chúng ta dừng lại ở chương thứ hai, nói về Dân Thiên Chúa.
Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng thế giới và nhân loại, và mong muốn cứu độ mọi người, thực hiện công trình cứu độ của Người trong lịch sử bằng cách chọn một dân cụ thể và cư ngụ giữa dân ấy. Vì thế, Người đã gọi ông Abraham và hứa ban cho ông một dòng dõi đông đảo như sao trên trời và như cát ngoài bãi biển (x. St 22,17-18). Với con cháu của Abraham, sau khi giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ, Thiên Chúa lập giao ước với họ, đồng hành với họ, chăm sóc họ, và mỗi khi họ lạc lối thì lại quy tụ họ trở về. Do đó, căn tính của dân này được xác định bởi hành động của Thiên Chúa và bởi đức tin vào Người. Họ được gọi để trở nên ánh sáng cho các dân tộc khác, như một ngọn hải đăng thu hút mọi dân tộc, toàn thể nhân loại (x. Is 2,1-5).
Công đồng khẳng định rằng: “Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ xảy ra như sự chuẩn bị và hình bóng cho giao ước mới và hoàn hảo sẽ được thiết lập trong Đức Kitô, cũng như cho mạc khải đầy đủ hơn sẽ được truyền đạt bởi chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người” (LG, 9).
Thật vậy, chính Đức Kitô, khi ban Mình và Máu Người, đã quy tụ dân này nơi chính mình một cách dứt khoát. Từ nay, dân ấy bao gồm những người đến từ mọi quốc gia; họ được hiệp nhất bởi đức tin vào Người, bởi sự gắn bó với Người, và bởi việc sống chính sự sống của Người nhờ Thánh Thần của Đấng Phục Sinh. Đó chính là Giáo hội: dân Thiên Chúa phát sinh từ thân thể của Đức Kitô và chính mình cũng là thân thể của Đức Kitô; không phải là một dân như những dân khác, nhưng là dân của Thiên Chúa, được Người triệu tập và gồm những phụ nữ và nam giới đến từ mọi dân tộc trên trái đất. Nguyên lý hiệp nhất của dân này không phải là một ngôn ngữ, một nền văn hóa hay một sắc tộc, nhưng là đức tin vào Đức Kitô. Vì thế, theo một cách diễn đạt tuyệt đẹp của Công đồng, Giáo hội là: “cộng đoàn của những người hướng nhìn Đức Giêsu trong đức tin” (LG, 9).
Đó là một dân mang tính Mêsia, bởi vì thủ lãnh của họ là Đức Kitô, Đấng Mêsia. Những ai thuộc về dân này không tự hào vì công trạng hay danh hiệu nào, nhưng chỉ vì ân huệ được trở thành, trong Đức Kitô và nhờ Người, con cái Thiên Chúa. Vì thế, trước bất cứ nhiệm vụ hay chức năng nào, điều thực sự quan trọng trong Giáo hội là được gắn liền với Đức Kitô, được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ ân sủng. Đây cũng là danh hiệu duy nhất mà chúng ta nên tìm kiếm với tư cách Kitô hữu. Chúng ta ở trong Giáo hội để không ngừng lãnh nhận sự sống từ Chúa Cha và để sống như con cái của Người, như anh chị em với nhau. Do đó, luật chi phối các mối tương quan trong Giáo hội là tình yêu, như chúng ta nhận lãnh và trải nghiệm nơi Đức Giêsu; và mục tiêu của tình yêu ấy là Nước Thiên Chúa, nơi Giáo hội đang tiến bước cùng toàn thể nhân loại.
Được hiệp nhất trong Đức Kitô, Chúa và Đấng Cứu Độ của mọi người nam nữ, Giáo hội không bao giờ khép kín nơi chính mình, nhưng luôn mở ra cho tất cả và là dành cho tất cả. Nếu các tín hữu Đức Kitô thuộc về Giáo hội, Công đồng cũng nhắc chúng ta rằng: “Tất cả mọi người đều được mời gọi hình thành dân mới của Thiên Chúa. Vì thế dân này, tuy vẫn là một và duy nhất, phải lan rộng khắp thế giới và suốt mọi thời đại, để ý định của Thiên Chúa được thực hiện: Người đã tạo dựng bản tính nhân loại như một, và muốn quy tụ lại các con cái của Người, vốn đã bị phân tán” (LG, 13). Ngay cả những người chưa đón nhận Tin mừng cũng theo một cách nào đó, hướng về dân Thiên Chúa. Vì thế Giáo hội, khi cộng tác vào sứ mạng của Đức Kitô, được mời gọi loan báo Tin mừng ở khắp nơi và cho mọi người (x. LG, 17), để mỗi người có thể gặp gỡ Đức Kitô. Điều này có nghĩa là trong Giáo hội có chỗ cho tất cả mọi người, và mỗi Kitô hữu được kêu gọi loan báo Tin mừng và làm chứng trong mọi môi trường nơi mình sống và làm việc. Chính như thế, dân này biểu lộ tính công giáo của mình: đón nhận sự phong phú và nguồn lực của các nền văn hóa khác nhau, đồng thời mang đến cho họ sự mới mẻ của Tin mừng để thanh luyện và nâng cao họ (x. LG, 13).
Theo nghĩa đó, Giáo hội là một nhưng bao gồm tất cả. Một nhà thần học lớn đã mô tả Giáo hội như sau: “Là con tàu duy nhất của ơn cứu độ, Giáo hội phải đón nhận trong lòng tàu rộng lớn của mình mọi khác biệt của nhân loại. Là phòng tiệc duy nhất của bữa tiệc, các của ăn Giáo hội phân phát được lấy từ toàn thể công trình tạo dựng. Là chiếc áo không đường may của Đức Kitô, Giáo hội cũng - và thực ra là cùng một điều - là chiếc áo nhiều màu của ông Giuse.”
Đó là một dấu chỉ lớn lao của niềm hy vọng - đặc biệt trong thời đại hôm nay, khi thế giới bị xâu xé bởi nhiều xung đột và chiến tranh - khi biết rằng Giáo hội là một dân tộc trong đó, nhờ đức tin, những người nam và nữ khác nhau về quốc tịch, ngôn ngữ và văn hóa có thể cùng chung sống với nhau. Đó là một dấu chỉ được đặt ngay trong lòng nhân loại, như lời nhắc nhở và lời tiên báo về sự hiệp nhất và hòa bình mà Thiên Chúa Cha mời gọi tất cả con cái của Người đạt tới.
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý trên đây của Đức Thánh cha, các độc viên lần lượt tóm tắt bài huấn giáo bằng các thứ tiếng khác nhau, kèm theo những lời chào thăm và nhắn nhủ của ngài.
Nhưng trước tiên, Đức Thánh cha đã đưa ra lời kêu gọi hòa bình cho Trung Đông và đặc biệt là tưởng niệm cha sở Pierre El Rahi bị tử nạn vì bom ở miền nam Liban, trong lúc cứu giúp các tín hữu bị Israel oanh kích.
Khi chào bằng tiếng Pháp, Đức Thánh cha nói: “Tôi thân ái chào các tín hữu hành hương nói tiếng Pháp, đặc biệt những người đến từ Pháp: nhóm các linh mục của Giáo phận Saint-Flour cùng với vị giám mục của họ, và các học sinh của nhiều trường Công giáo; sau cùng là các tín hữu hành hương đến từ Bỉ, đặc biệt là nhóm sinh viên của các Trường Châu Âu.
Anh chị em hãy trở thành những nhà truyền giáo của sự hiệp nhất và hòa bình, làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em!”
Với các nhóm nói tiếng Anh, Đức Thánh cha nói: “Tôi chào tất cả các khách hành hương và khách viếng thăm nói tiếng Anh tham dự buổi tiếp kiến hôm nay, đặc biệt các nhóm đến từ Đan Mạch, Úc và Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Với những lời cầu chúc đầy tâm tình cầu nguyện để Mùa Chay này trở thành thời gian ân sủng và canh tân thiêng liêng cho anh chị em và gia đình, tôi cầu xin cho tất cả anh chị em được niềm vui và bình an trong Chúa Giêsu Kitô”.
Kế đó, Đức Thánh cha nhắc đến các tín hữu Ba Lan và nói: “Tôi thân ái chào các tín hữu Ba Lan. Trong hơn ba trăm năm qua, vào Mùa Chay, khi hát bài “Những bài ai ca”, anh chị em suy niệm về cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu và nỗi đau của Mẹ Người. Tôi khuyến khích anh chị em tham dự những buổi cử hành này. Ước gì lời cầu nguyện luôn đi kèm với những việc bác ái cụ thể: giúp đỡ nhau, hòa giải và xây dựng hòa bình, đặc biệt trong gia đình và trong cộng đoàn Giáo hội của anh chị em. Tôi chúc lành cho tất cả anh chị em!”
Sau cùng bằng tiếng Ý, Đức Thánh cha ngỏ lời như sau: “Tôi thân ái chào mừng các khách hành hương nói tiếng Ý. Đặc biệt, tôi chào các tu sĩ Dòng Trợ thế Thánh Gioan Thiên Chúa, và cảm ơn họ vì sự phục vụ quý giá, nhất là dành cho những người mong manh và dễ bị tổn thương. Tôi cũng chào phái đoàn của “Ngọn Đuốc Biển Đức”, do các thị trưởng của Norcia, Subiaco và Cassino dẫn đầu, cùng với Đức Tổng giám mục Renato Boccardo. Tôi vui mừng chúc lành cho biểu tượng của tình huynh đệ này.
Tôi hy vọng ánh sáng của ngọn đuốc ấy sẽ truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo và các công dân xây dựng một xã hội dựa trên các giá trị liên đới và hòa hợp, theo gương Thánh Biển Đức, sứ giả của hòa bình”.
Sau cùng, Đức Thánh cha nói: “Tôi gửi lời và nghĩ đến các bệnh nhân, các đôi tân hôn và các bạn trẻ, đặc biệt là các học sinh của Trường Trung học Galilei ở Siena, Viện San Leone IX ở Sessa Aurunca và Viện Gadda ở Quarto.
Trong thời gian Mùa Chay này, chúng ta hãy tiếp tục dấn bước cách sốt sắng trên hành trình hướng tới Lễ Phục Sinh, mầu nhiệm trung tâm của đức tin chúng ta. Tôi ban phép lành cho tất cả anh chị em!”
Buổi Tiếp kiến chung kết thúc bằng kinh Lạy Cha và phép lành của Đức Thánh cha.