Đức Hồng y Müller phê bình một số kết quả thảo luận của các nhóm nghiên cứu thuộc Thượng Hội đồng Thế giới

Cardinal Gerhard Müller. | Credit: La Sacristía de la Vendée
Đức Hồng y Gerhard Müller, người Đức, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, phê bình một số kết quả của các nhóm nghiên cứu thuộc Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới kỳ thứ XVI.

G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA

Theo Đức Hồng y, “Người ta không công khai phủ nhận các chân lý mặc khải, nhưng chỉ dựng bên cạnh đó một ngôi nhà Kitô giáo tiện nghi và thích nghi với thế tục”.

Trong một bài bình luận đăng trên trang mạng Kath.net ở Đức, truyền đi ngày 09 tháng Năm vừa qua, Đức Hồng y Müller viết: “Các nhóm nghiên cứu do Đức Giáo hoàng Phanxicô thành lập trong thời gian diễn ra Thượng Hội đồng về tính hiệp hành năm 2024 đang dần dần công bố các kết quả thảo luận của họ, tuy những kết quả này gây nhiều tranh cãi gay gắt. Chúng có điểm giống nhau đáng lo ngại ở hai khía cạnh:

Trước hết là sự nghi ngờ đối với các nội dung cốt lõi của giáo huấn đức tin Công giáo, khi người ta nhầm lẫn chúng với một hệ tư tưởng mang tính thời đại, thay vì nhìn nhận chúng như sự truyền đạt trọn vẹn và không cắt xén mặc khải của Thiên Chúa cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

Thứ hai là nỗ lực thực hiện cái gọi là “chuyển đổi mô hình từ tín lý cứng nhắc sang mục vụ nhân bản hơn”, nhằm bắt kịp các hệ tư tưởng đang thống trị thời đại để được những người cổ võ chúng công nhận.

Người ta không công khai phủ nhận các chân lý mặc khải. Nhưng người ta gạt chúng sang một bên và xây dựng bên cạnh đó một ngôi nhà Kitô giáo tiện nghi và thích nghi với thế gian. Để gây hoang mang cho các tín hữu đơn sơ, người ta tô điểm điều đó bằng những khẩu hiệu nghe có vẻ Kinh thánh và thiêng liêng, như: “Điều Thần Khí nói với các cộng đoàn”, “phân định thay vì kết án”, “Chúa Giêsu đầy lòng thương xót và chấp nhận mọi sự” đối lập với các “thầy dạy luật nghiêm khắc” và những “giáo sư thần học bảo thủ bị giam hãm trong hệ thống của mình”, những người bị cho là quan tâm đến chữ nghĩa và giáo lý cứng nhắc hơn là con người trong sự yếu đuối và tổn thương của họ.

Vì xem nhẹ hoặc thiếu hiểu biết về truyền thống Công giáo, người ta đi đến kết luận mang tính ngụy biện rằng tội lỗi không còn là hành động có ý thức và tự do chống lại các giới răn Thiên Chúa, nhưng là việc từ chối lòng thương xót bao trùm tất cả dành cho những người không thể hoặc không muốn giữ các giới răn ấy.

Trong thực tế, Giáo hội dạy rằng Chúa Kitô đã chết trên thập giá vì tội lỗi của mọi người, và Chúa Thánh Thần không từ chối ân sủng của Thiên Chúa đối với bất cứ ai hoán cải theo Tin mừng, để họ có thể sống đời sống mới và thánh thiện trong việc bước theo Chúa Kitô. Chính vì thế mà Thánh Tông đồ có thể nói với những người đã chịu phép rửa:

“Anh em đừng sống như dân ngoại trong sự hư không của trí khôn họ nữa. Hãy cởi bỏ con người cũ đang hư hỏng vì dục vọng và mê lầm, hãy đổi mới tâm trí anh em và mặc lấy con người mới được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa trong sự công chính và thánh thiện đích thực” (Ep 4,17.22-24).

Trong bối cảnh các Thượng Hội đồng Giám mục và các “con đường hiệp hành” tại các Giáo hội địa phương, người ta luôn thấy xuất hiện chủ đề ưa thích của một số giám mục, thần học gia và giáo dân chịu ảnh hưởng tinh thần thời đại. Thay vì dẫn đưa con người đến với Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, Đấng Trung Gian duy nhất và chân thật giữa Thiên Chúa và nhân loại, họ lại đơn điệu và hạn hẹp khi coi việc tiếp nhận hệ tư tưởng giới tính (gender) và cầu vồng (biểu tượng đồng tính luyến ái), là tương lai của Giáo hội. Vì thế, họ thậm chí còn liều lĩnh đặt cược cả sự hiệp nhất hữu hình của Giáo hội trong chân lý của Chúa Kitô, chân lý mà chính Chúa đã trao phó cho toàn thể Giám mục đoàn hiệp thông với và dưới quyền Đức Giáo hoàng, vị kế nhiệm cá nhân của Thánh Phêrô trên Ngai tòa Rôma.

Việc chúc lành riêng tư hoặc bán-phụng vụ cho các cặp đồng giới hay khác giới sống trong những mối quan hệ bất hợp lệ dựa trên sự phủ nhận mang tính lạc giáo đối với chân lý mặc khải rằng Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Và Chúa Giêsu, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, đã chống lại lối giải thích ly dị theo kiểu kinh sư của người Pharisêu, đồng thời xác nhận và mặc khải cách dứt khoát ý muốn nguyên thủy của Đấng Tạo Hóa rằng người nam và người nữ chỉ trở nên “một xương một thịt” qua lời ưng thuận hôn phối (x. Mt 19,3-9).

Như thế, người nam và người nữ trong hôn nhân hình thành một sự hiệp nhất hai-ngôi vị và hai-giới tính trong tình yêu hỗ tương, đời sống chung và sự mở ra cho con cái mà Thiên Chúa muốn ban cho họ. Chỉ có người nam và người nữ trong sự hiệp nhất hôn nhân mới được Thiên Chúa chúc phúc để sinh sôi nảy nở, làm đầy mặt đất và cai quản muôn loài cách khôn ngoan (x. St 1,28).

Không hề có bất kỳ dấu vết nào trong Kinh thánh hay toàn bộ truyền thống Giáo hội về việc chúc lành cho những người đang sống trong các quan hệ ngoại tình - càng không có việc các giám mục được trao quyền thiết lập hay cho phép những phép lành mang tính lừa dối và phạm thượng như thế. Phép lành phụng vụ hay riêng tư (benedictio = sự chuẩn nhận), nhờ đó chúng ta được chúc lành trong Chúa Kitô, là lời cầu nguyện của Giáo hội tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa để con người được tăng trưởng trong điều thiện hảo, chứ tuyệt nhiên không phải là sự xác nhận một đời sống tội lỗi chống lại Thiên Chúa. Sự yếu đuối của con người không thể là lý do biện minh, vì Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta bằng ân sủng của Ngài - ân sủng mà Thiên Chúa không từ chối bất cứ ai chân thành cầu xin (x. Rm 8,26).

Về những kẻ “đánh đổi chân lý Thiên Chúa lấy sự gian dối”, thay thế trật tự của Thiên Chúa bằng hệ tư tưởng riêng và những thứ thần học giả tạo pha trộn xã hội học và tâm lý học, Thánh Tông đồ nói rằng họ suy nghĩ lệch lạc và sống trong tội lỗi, điều dẫn đến cái chết của đời sống ân sủng; hơn nữa, dù biết hành vi của mình là sai trái, họ vẫn còn tán thành những kẻ hành động nghịch lại Thiên Chúa (x. Rm 1,25.32).

Trong các phản ứng của “vận động hành lang đồng tính” trong nội bộ Giáo hội đối với tài liệu của nhóm nghiên cứu hiệp hành liên quan, cũng như đối với các phép lành cho các quan hệ tình dục ngoài hôn nhân do một số giám mục ra lệnh thực hiện, người ta công khai hoan nghênh việc tương đối hóa mang tính lạc giáo đối với hôn nhân tự nhiên và bí tích. Người ta trình bày đó như bước đầu tiên hướng tới việc công nhận hệ tư tưởng LGBT, vốn thực chất chỉ cổ võ một quan niệm duy vật về con người mà không có Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, Cứu Chuộc và Hoàn Tất con người.

Ai thực sự là thầy dạy đức tin và mục tử của các tín hữu do Chúa Kitô đặt lên, và thực sự quan tâm đến bình an nội tâm cùng ơn cứu độ đời đời của các tín hữu được trao phó cho mình, thì không biến những con người trong hoàn cảnh khó khăn thành món đồ chơi của một hệ tư tưởng vô thần hoặc thành công cụ để đánh bóng tên tuổi mình trong môi trường “woke”, nhưng chỉ cho họ cách cá vị hướng về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

“Vì chúng ta không có một vị Thượng Tế không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, nhưng là Đấng đã chịu thử thách mọi bề như ta, ngoại trừ tội lỗi. Vậy chúng ta hãy mạnh dạn tiến đến ngai ân sủng, để được xót thương và lãnh nhận ân sủng hầu được trợ giúp khi cần” (Dt 4,15tt). Chỉ mình Người là Đấng Mêsia đích thực và chỉ Người mới có thể cứu giúp mọi người khỏi mọi khốn khó tinh thần và căng thẳng nội tâm - khác với những “đấng cứu thế trần gian”, những kẻ với các học thuyết tự cứu độ của mình đã nhiều lần đưa nhân loại đến tai họa.

Hệ tư tưởng giới tính đi ngược trực tiếp với nhân học Kitô giáo. Nó cũng mâu thuẫn với khoa học sinh học khi tùy tiện tưởng tượng ra 60-80 giới tính khác nhau. Nó xúc phạm đến lẽ thường, vốn biết rằng mỗi con người đều xuất phát từ sự kết hợp giữa cha và mẹ của mình.

Với hệ tư tưởng “woke” vốn bắt nguồn từ tư tưởng vô thần-duy vật, một thứ lạc giáo mang tính phá hoại và một mầm mống ly giáo đã xâm nhập vào Giáo hội Công giáo; xét về mức độ chống lại chân lý mặc khải của Thiên Chúa, nó tương tự như các lạc giáo Mani giáo hay Pelagiô trong lịch sử.

Lịch sử Giáo hội cho thấy rằng chỉ nhờ sự chống trả liên tục của Huấn quyền các Đức Giáo hoàng và các Công đồng, cũng như sức mạnh trí tuệ của các Đại Tiến sĩ Giáo hội, từ Augustinô đến Tôma Aquinô và John Henry Newman, mà những hiểm họa đe dọa sự sống còn của Giáo hội như thế mới bị đẩy lùi. Mọi đế chế do con người xây dựng và mọi pháo đài tư tưởng vô thần sớm muộn rồi cũng sẽ sụp đổ. Nhưng cửa địa ngục sẽ không thắng nổi Giáo hội, vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống, đã xây dựng Giáo hội trên đá tảng là thánh Phêrô.

Không phải việc biến đổi Giáo hội thành một phong trào từ thiện mang màu sắc tôn giáo-xã hội sẽ đưa con người tục hóa của phương Tây hậu Kitô giáo trở về trong vòng tay rộng mở của Chúa Giêsu Kitô, vị Mục tử nhân lành và là “Ánh sáng muôn dân”. Chỉ có thể lặp lại lời của các nghị phụ Công đồng Vaticanô II rằng Giáo hội mong muốn “chiếu soi mọi người bằng ánh sáng của Chúa Kitô phản chiếu trên dung nhan Giáo hội khi loan báo Tin mừng cho mọi tạo vật” (Lumen gentium, số 1).

Những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu không tìm kiếm sự tán thành của người đời hay thứ “phép lành giả tạo” của “những kẻ quyền thế, nổi tiếng và có ảnh hưởng trong thế gian này” (x. 1Cr 2,6). Vì trong tình yêu và chân lý, “Thiên Chúa là Cha Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã chúc phúc cho chúng ta bằng mọi phúc lành thiêng liêng trên trời, trong Chúa Kitô” (Ep 1,3).

(Kath.net 9-5-2026)