Giáo hội sắp có thêm 80 chân phước tử đạo và một chân phước hiển tu
Giáo hội sắp có thêm 80 chân phước tử đạo và một chân phước hiển tu được tôn phong.
Phúc Nhạc | RVA
Hôm 22 tháng Năm vừa qua, với sự chấp thuận của Đức Thánh cha Lêô XIV, Đức Hồng y Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh, đã công bố hai sắc lệnh:
Sắc lệnh thứ I nhìn nhận cuộc tử đạo của 80 vị tại Giáo phận Santander, trong thời Nội chiến Tây Ban Nha, từ năm 1936 đến năm 1939.
Đứng đầu danh sách là cha Francisco Gonzáles de Córdova, coi sóc giáo xứ Santa María del Puerto ở Santona. Trong thời kỳ bách hại, cha từ chối trốn chạy mặc dù bị cấm cử hành thánh lễ và ban các bí tích. Ngài bị bắt giam và đưa lên con tàu biến thành nhà tù; trong hầm tàu, ngài tiếp tục giải tội cho các tù nhân và lần hạt Mân côi mỗi ngày. Khi bị gọi ra hành quyết, cha xin được là người cuối cùng để có thể ban phép giải tội và chúc lành cho các bạn đồng hành. Khi ấy ngài được 48 tuổi.
Một số vị khác bị ném xuống biển với tay chân bị trói và đá buộc vào người; những người khác biến mất trên con tàu nhà tù “Alfonso Pérez”; có người bị giết rồi thiêu xác; một số khác chết trong một dạng trại tập trung. Trong số 80 vị có 67 linh mục, ba tu sĩ Dòng Cát Minh, ba chủng sinh và bảy giáo dân.
Sắc lệnh thứ hai nhìn nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của vị tôi tớ Chúa là Elias Hoyek, Thượng phụ Giáo hội Công giáo Maronit Liban.
Ngài sinh ngày 04 tháng Mười Hai năm 1843, tại Helta (Liban), gia nhập Chủng viện năm 16 tuổi, sau đó đến Rôma học thần học và thụ phong linh mục năm 1870. Trở về Liban, cùng với mẹ Rosalie Nasr, ngài thành lập tại Ebrine Dòng Nữ Maronite Thánh Gia - hội dòng nữ hoạt động tông đồ đầu tiên của Giáo hội Maronite.
Năm 1899, ngài được bầu làm Thượng phụ Antiôkia của Giáo hội Maronite và trong suốt 30 năm đã chăm lo việc đào tạo hàng giáo sĩ cũng như việc giáo lý cho các tín hữu. Ngài trở thành điểm tựa của xã hội Liban đang khát vọng độc lập khỏi Đế quốc Ottoman Hồi giáo, xây dựng quan hệ với chính quyền và bảo vệ dân mình.
Khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, ngài mở cửa các tu viện và đan viện để nuôi dưỡng những người kiệt quệ vì chiến tranh, bất kể họ thuộc tôn giáo nào. Vì thế, ngài bị chính quyền Ottoman kết án lưu đày, nhưng đã tránh được nhờ sự can thiệp của Đức Thánh cha và nền ngoại giao Áo-Hung.
Năm 1920, quốc gia Đại Liban mới được thành lập, và ngài đã góp phần vào tiến trình này qua việc tham gia đàm phán với chính quyền Đế quốc Ottoman. Ngài qua đời năm 1931 tại Bkerké. Ngài là con người của đối thoại và bác ái mục tử sâu sắc, sống tinh thần nghèo khó Tin mừng, được mọi người yêu mến và kính trọng đến mức được gọi là “Người cha của Đại Liban”.
Người được phép lạ nhờ lời chuyển cầu của ngài là sĩ quan Nayef Abou Assi, một người Hồi giáo thuộc sắc tộc Druze. Ông mắc chứng “trượt đốt sống hai bên” mãn tính. Một ngày nọ, sau khi mơ thấy vị Thượng phụ, ông thức dậy và hoàn toàn khỏi bệnh.
(Vatican News 22-5-2026)