Đức Thánh cha cử hành thánh lễ cho các tín hữu Công giáo tại Istanbul

Giã từ Tòa Thượng phụ, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiến về Hội trường Volkswagen, cách Tòa Thượng phụ 17 cây số, được kiến thiết hồi năm 2015 và được dùng cho nhiều sinh hoạt khác nhau. Có khoảng 4.000 tín hữu từ các nơi ở Thổ Nhĩ Kỳ đến đây để tham dự thánh lễ với Đức Thánh cha.

G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA

Thánh lễ khởi đầu Mùa Vọng, khai mạc Năm Phụng vụ mới. Nhiều người đã đi suốt đêm để tới, và nhiều người khác cũng muốn đến dự nhưng số chỗ giới hạn. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã đài thọ chi phí thuê Hội trường này cho các tín hữu.

Thánh lễ có các phần được cử hành bằng tiếng Armeni, Aramaico, tiếng Anh và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, cả tiếng Arap và Ý, xét vì các tín hữu là những người “tứ phương”. Đồng tế với Đức Thánh cha, có tất cả 10 giám mục thuộc các giáo phận ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng như các hồng y và giám mục thuộc đoàn tùy tùng của Đức Thánh cha, cùng với hàng chục linh mục khác, tất cả trong phẩm phục màu tím của Mùa Vọng.

Đây là thánh lễ công cộng duy nhất Đức Thánh cha cử hành cho các tín hữu Công giáo trong bốn ngày viếng thăm tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Bài giảng của Đức Thánh cha

Trong bài giảng thánh lễ bằng tiếng Anh, Đức Thánh cha nói:

Anh chị em thân mến,

Chúng ta cử hành thánh lễ này áp ngày Giáo hội kính nhớ thánh Anrê, Tông đồ và Bổn mạng của vùng đất này. Đồng thời, chúng ta cũng bắt đầu Mùa Vọng, để chuẩn bị sống lại, trong lễ Giáng sinh, mầu nhiệm của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha” (Kinh Tin Kính Nicea- Constantinople), như cách đây 1.700 năm, các Nghị phụ họp Công đồng tại Nicea đã long trọng tuyên bố.

Trong bối cảnh ấy, phụng vụ giới thiệu cho chúng ta, trong bài đọc I (x. Is 2,1-5), một trong những trang đẹp nhất của sách ngôn sứ Isaia, nơi vang lên lời mời gọi tất cả các dân tộc tiến lên núi của Chúa (x. c.3), nơi của ánh sáng và bình an. Tôi mong rằng chúng ta cùng suy niệm về việc chúng ta là Giáo hội, dừng lại ở một vài hình ảnh chứa đựng trong đoạn văn này.

Hình ảnh thứ nhất là “ngọn núi cao trên đỉnh các núi” (x. Is 2,2). Điều này nhắc chúng ta rằng hoa trái từ hành động của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta không chỉ là món quà dành riêng cho chúng ta, mà cho tất cả mọi người. Vẻ đẹp của Sion - thành trên núi, biểu tượng của một cộng đoàn được tái sinh trong lòng trung thành và trở thành dấu chỉ ánh sáng cho mọi người, từ mọi xuất thân - nhắc ta rằng niềm vui của điều thiện là một niềm vui lan tỏa. Ta gặp xác quyết ấy nơi đời sống của nhiều vị thánh. Thánh Phêrô gặp Đức Giêsu nhờ lòng nhiệt thành của người anh là Anrê (x. Ga 1,40-42), và Anrê cùng với Gioan tông đồ đã được đưa đến cùng Chúa nhờ lòng sốt mến của Gioan Tẩy Giả. Thánh Augustinô, nhiều thế kỷ sau, đến với Đức Kitô nhờ lời giảng sốt sắng của thánh Ambrosiô, và còn nhiều trường hợp khác nữa.

Tất cả những điều ấy gửi đến chúng ta lời mời gọi hãy canh tân trong đức tin sức mạnh chứng tá của mình. Thánh Gioan Kim Khẩu, vị mục tử vĩ đại của Giáo hội này, đã nói về sức cuốn hút của sự thánh thiện như một dấu chỉ hùng hồn hơn nhiều phép lạ. Ngài nói: “Phép lạ xảy ra rồi qua đi, nhưng đời sống Kitô hữu thì tồn tại và xây dựng liên tục” (Chú giải Tin Mừng Thánh Matthêu, 43,5), và kết luận: “Vậy chúng ta hãy tỉnh thức đối với chính mình, để cũng đem lại lợi ích cho người khác” (sđd).

Anh chị em rất thân mến, nếu thật sự chúng ta muốn giúp đỡ những người chúng ta gặp gỡ, hãy tỉnh thức đối với chính mình, như Tin mừng khuyên (x. Mt 24,42): nuôi dưỡng đức tin bằng cầu nguyện và các bí tích, sống đức tin cách nhất quán bằng bác ái, loại bỏ - như thánh Phaolô nói trong bài đọc II - những việc của tối tăm và khoác lên mình áo giáp của ánh sáng (x. Rm 13,12). Chúa, Đấng chúng ta mong chờ trong vinh quang vào cuối thời gian, vẫn đến mỗi ngày gõ cửa lòng chúng ta. Hãy sẵn sàng (x. Mt 24,44) bằng sự cố gắng chân thành sống một đời tốt lành, như biết bao mẫu gương thánh thiện mà lịch sử của vùng đất này phong phú dạy ta.

Hình ảnh thứ hai mà ngôn sứ Isaia gửi đến chúng ta là hình ảnh một thế giới nơi hòa bình ngự trị. Ông mô tả như sau: “Họ sẽ đúc gươm thành lưỡi cày, rèn giáo thành lưỡi liềm; dân này không còn tuốt gươm chống lại dân kia, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2,4). Biết bao lần chúng ta cảm thấy lời kêu gọi này cấp bách hôm nay! Biết bao nhu cầu về hòa bình, hiệp nhất và hòa giải quanh ta, cũng như trong ta và giữa chúng ta! Làm sao chúng ta có thể góp phần đáp lại nhu cầu ấy?

Để hiểu điều đó, ta có thể tìm sự trợ giúp từ “biểu tượng” của chuyến viếng thăm này, trong đó một trong các hình ảnh được chọn là cây cầu. Hình ảnh ấy cũng gợi nhớ đến cây cầu lớn nổi tiếng của thành phố này, bắc ngang eo biển Bosphorus, nối liền hai châu lục: Á và Âu. Theo thời gian, hai cầu khác được xây thêm, vì thế hiện nay có ba điểm kết nối giữa hai bờ. Ba công trình giao thông lớn, trao đổi, gặp gỡ: đồ sộ khi nhìn, thế nhưng lại nhỏ bé và mong manh nếu so với mênh mông lãnh thổ mà chúng nối liền.

Ba nhịp cầu ấy khiến chúng ta nghĩ đến tầm quan trọng của những nỗ lực chung vì hiệp nhất ở ba cấp độ: trong cộng đoàn, trong tương quan đại kết với các tín hữu thuộc các hệ phái Kitô giáo khác, và trong gặp gỡ với anh chị em thuộc tôn giáo khác. Chăm sóc ba nhịp cầu này - củng cố và mở rộng chúng bằng mọi cách có thể - là một phần ơn gọi của chúng ta trở nên “thành xây trên núi” (x. Mt 5,14-16).

Trước hết, như tôi đã nói, trong Giáo hội này hiện diện bốn truyền thống phụng vụ khác nhau - Latinh, Armenia, Canđê và Syria - mỗi truyền thống mang đến sự phong phú riêng về tinh thần, lịch sử và đời sống Giáo hội. Chia sẻ những khác biệt ấy có thể cho thấy một cách nổi bật một trong những nét đẹp nhất nơi dung mạo Hiền thê của Đức Kitô: tính Công giáo hiệp nhất mọi người. Sự hiệp nhất được gắn kết quanh Bàn thờ là ân ban của Thiên Chúa, và vì thế mạnh mẽ và bất khả chiến bại, vì là công trình của ân sủng Ngài. Tuy nhiên, việc thực hiện sự hiệp nhất ấy trong lịch sử lại được trao phó cho chúng ta, cho nỗ lực của chúng ta. Bởi vậy, cũng giống như các cây cầu trên Bosphorus, nó cần sự chăm sóc, quan tâm, “bảo dưỡng”, để thời gian và thăng trầm không làm yếu đi nền móng. Hướng mắt lên ngọn núi của lời hứa - hình ảnh của Giêrusalem thiên quốc, là mục tiêu và là mẹ của chúng ta (x. Gl 4,26) - chúng ta hãy nỗ lực hết mình để thúc đẩy và củng cố các mối dây liên kết giữa chúng ta, để làm giàu cho nhau và trở thành trước mặt thế gian dấu chỉ đáng tin cậy của tình yêu phổ quát và vô biên của Chúa.

Mối dây hiệp thông thứ hai mà phụng vụ này gợi ý là mối dây đại kết. Điều đó cũng được minh chứng qua sự hiện diện của các Đại diện thuộc các hệ phái khác, mà tôi xin chào với lòng biết ơn sâu sắc. Chính đức tin chung vào Đấng Cứu Độ hiệp nhất chúng ta không chỉ giữa chúng ta với nhau, mà còn với tất cả anh chị em thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Kitô giáo khác. Chúng ta đã cảm nghiệm điều này hôm qua, trong buổi cầu nguyện tại Iznik. Đây cũng là con đường mà từ lâu chúng ta đã cùng nhau bước đi, và thánh Gioan XXIII - người gắn bó với vùng đất này bằng những mối dây thân tình - là một người cổ vũ và chứng nhân lớn. Vì thế, khi chúng ta xin, bằng lời của Đức Giáo hoàng Gioan, “cho mầu nhiệm cao cả của sự hiệp nhất mà Đức Giêsu Kitô đã khẩn khoản nài xin Chúa Cha trên trời trước lúc hiến tế được nên trọn” (Diễn văn khai mạc Công đồng Vaticano II, 11.10.1962, 8.2), hôm nay chúng ta hãy đổi mới lời “xin vâng” với sự hiệp nhất, “để tất cả nên một” (Ga 17,21), ut unum sint.)

Mối dây thứ ba mà Lời Chúa nhắc ta là mối dây với những người thuộc các cộng đồng không phải Kitô giáo. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà quá thường xuyên tôn giáo bị lợi dụng để biện minh cho chiến tranh và tội ác. Nhưng chúng ta biết rằng, như Công đồng Vatican II quả quyết, “tương quan của con người với Thiên Chúa Cha và tương quan của con người với anh em mình gắn chặt đến mức Kinh thánh nói: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,8)” (Tuyên ngôn Nostra Aetate, 5). Vì thế, chúng ta muốn cùng nhau bước đi, trân trọng điều liên kết chúng ta, phá đổ những bức tường thành kiến và ngờ vực, thúc đẩy sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau, để trao cho mọi người một thông điệp mạnh mẽ về hy vọng và lời mời gọi trở nên “người kiến tạo hòa bình” (Mt 5,9).

Và Đức Thánh cha kết luận: “Anh chị em thân mến, chúng ta hãy biến những giá trị ấy thành những quyết tâm cho Mùa Vọng và hơn nữa cho cả đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn của chúng ta. Bước chân chúng ta đi như trên một cây cầu nối đất với Trời - cây cầu mà Chúa đã bắc cho chúng ta. Hãy luôn hướng mắt về bờ bên kia của cây cầu, để yêu mến Thiên Chúa và anh em hết lòng, để cùng nhau bước đi, và để một ngày kia, tất cả chúng ta được gặp lại nhau trong Nhà Cha.

Cuối thánh lễ, lúc 18g30 giờ địa phương, Đức cha Massimiliano Palinuro, Đại diện Tông tòa Istanbul, đã đại diện tất cả mọi người cám ơn Đức Thánh cha và Đức Thánh cha đã tặng cho Giáo phận địa phương một chén lễ quý giá.

Trực tiếp

Livesteam thumbnail