Đức Viện phụ Schnabel lên án “Chiến tranh là sự đồi bại được trả giá bằng mạng sống của những người vô tội”
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Truyền thông Vatican và Đài phát thanh Dom Radio của Tổng Giáo phận Koeln bên Đức, truyền đi ngày 04 tháng Ba vừa qua, Đức Viện phụ Đan viện Biển Đức ở Israel lên án chiến tranh tại Trung Đông, đồng thời mô tả cuộc sống của Đan viện trong bầu khí chiến tranh hiện nay.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đây là Đan viện nói tiếng Đức. Viện phụ Nikodemus Schnabel nhớ rất rõ khoảnh khắc vào thứ Bảy, ngày 28 tháng Hai, khi Israel và Hoa Kỳ điều máy bay ném bom. Khi đó, toàn bộ cộng đoàn tu sĩ Đan viện Dormitio đang ở tu viện Tabgha bên Biển hồ Galilê, cách Jerusalem khoảng 170 km. Ngài nói:
“Từ thứ Sáu, ngày 27 tháng Hai, chúng tôi tổ chức tại đó các cuộc họp Đan viện hội - có thể nói đó là “quốc hội” của các tu sĩ. Và bầu khí thậm chí có chút hy vọng, vì từ tháng Hai năm nay chúng tôi lại có thể đón các nhóm hành hương từ Tây và Trung Âu. Đó là một tia hy vọng, khiến chúng tôi nghĩ rằng có lẽ chân trời đang dần sáng lên.
Du lịch đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng Kitô hữu nhỏ bé ở Israel và Palestine: 60% trong số họ sống nhờ du lịch.”
Một hy vọng mong manh bị tan vỡ
Theo lời Viện phụ Nikodemus, các tu sĩ ở núi Sion tại Giêrusalem cũng thuê 24 nhân viên địa phương, từ người trông xe đến người bán hàng trong cửa tiệm của Đan viện.
“Thứ Sáu tuần trước, trong các cuộc trao đổi của chúng tôi, cảm nhận chung là: có lẽ sắp tới chúng tôi có thể lại tự trang trải chi phí duy trì đan viện và trả lương cho nhân viên nhờ các đoàn hành hương... Hy vọng - tôi phải nói là rất mong manh - ấy đã bị phá tan vào sáng sớm thứ Bảy hôm sau đó. Trong lúc đang họp, còi báo động phòng không vang lên và chúng tôi chạy vào hầm trú ẩn.”
Trong hầm trú ẩn đó, các tu sĩ cùng những người có mặt đã trải qua hai giờ tiếp theo: nhân viên, các tình nguyện viên đến từ Hoa Kỳ và Hồng Kông, các nữ tu Philippines, một tài xế xe buýt người Palestine và một nhóm khách hành hương Pháp đến thăm nơi xảy ra phép lạ bánh và cá. Tổng cộng khoảng 60 người.
Cầu nguyện và hát trong hầm trú ẩn
“Hầm trú thật sự rất, rất an toàn. Chúng tôi đã niêm kín cửa sổ cẩn thận, tuy nhiên vẫn nghe thấy các tên lửa được phóng đi và mặt đất rung nhẹ. Tất cả chúng tôi đều ý thức được điều gì đang xảy ra quanh mình. Chúng tôi đã hát và cầu nguyện trong hầm trú ẩn bằng nhiều thứ tiếng, đồng thời nghĩ đến những người ở Iran. Đó là một trải nghiệm rất mạnh mẽ. Một người hành hương hôm ấy tròn 19 tuổi. Chúng tôi hát mừng sinh nhật anh ấy bằng tất cả các ngôn ngữ có thể. Vì thế, dù trong hoàn cảnh như vậy, đó vẫn là một trải nghiệm đẹp: trở thành một cộng đoàn cầu nguyện của những người không quen biết nhau nhưng cùng chia sẻ một niềm hy vọng chung, cùng một gốc rễ đức tin và cùng cầu nguyện cho người khác.”
Sức mạnh của các thánh vịnh
Trong những ngày và giờ này, điều khiến viện phụ trăn trở nhất chính là sự lo lắng cho tha nhân. Khi trở lại Jerusalem vào thứ Bảy, ngày 28 tháng Hai cùng phần lớn các Đan sĩ khác, cha thấy các con đường của Thành Thánh vắng tanh. “Năm học thần học của chúng tôi dĩ nhiên diễn ra tại Jerusalem, được bổ sung bằng các tuần hội thảo Hồi giáo - Kitô giáo. Điều này có nghĩa là thực sự chúng tôi ở Jerusalem như một cộng đồng liên tôn, gồm các sinh viên thần học Kitô giáo và Hồi giáo đến từ Đức. Và đó cũng là một trải nghiệm rất đặc biệt.”
Viện phụ Nikodemus Schnabel quyết định ở lại Jerusalem và kiên trì cầu nguyện, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn mới, bởi vì “sức mạnh của các thánh vịnh” giờ đây được cảm nhận theo một cách hoàn toàn khác - “ở nơi mà lời nói của con người trở nên bất lực”.
Chúng tôi đã chuyển tất cả các giờ cầu nguyện xuống hầm mộ của đan viện, tức nhà thờ phía dưới - nơi người ta tin rằng Đức Maria đã qua đời - nơi đó được bảo vệ rất tốt.
Trong thánh lễ Chúa nhật, ngày 01 tháng Ba, chúng tôi nghe thấy các tên lửa đạn đạo rơi gần Jerusalem, và điều đó khiến chúng tôi thực sự nhận ra đất nước này nhỏ bé đến mức nào.”
Cầu nguyện cho tất cả mọi người - cả kẻ có lỗi và người quyền lực
Trong các lời nguyện chung Chúa nhật, các tu sĩ của Đan viện Dormitio cố ý cầu nguyện cho tất cả những người bị ảnh hưởng, kể cả những người có lỗi và những người quyền lực.
Viện phụ nói: “Tôi ước gì có thể đích thân trao cho một số người cây thánh giá bằng tro với lời trong chương 3 sách Sáng Thế: “Hỡi người, hãy nhớ rằng ngươi là bụi tro và sẽ trở về bụi tro.” Bởi vì theo tôi, có những người dường như quên mất thực tế này: họ là những con người phải chết, với một thời hạn của đời mình.”
Chiến tranh lột bỏ chiếc mặt nạ
Với tư cách tuyên úy, Đức Viện phụ cảm thấy mình bị thử thách mạnh mẽ. “Chiến tranh lột bỏ chiếc mặt nạ của bạn. Bạn đứng đó hoàn toàn trần trụi, và lớp áo giáp bảo vệ mà bạn mang trong đời sống hằng ngày vỡ vụn. Khi ấy, bạn đối diện với nỗi sợ hãi và lo lắng của chính mình. Và chính lúc đó người ta nhận ra rằng ơn gọi chính của chúng tôi là ở đó như những tu sĩ: lắng nghe, an ủi và cầu nguyện với mọi người.”
Cũng như trong cuộc chiến với Iran năm 2025, lần này một lao động di cư người Philippines đã thiệt mạng trong một cuộc tấn công trả đũa của Iran.
Sự bẩn thỉu của chiến tranh
“Hàng nghìn lao động di cư như thế - chủ yếu là phụ nữ từ Philippines, Ấn Độ và Sri Lanka, phần lớn là người Công giáo, anh chị em trong đức tin của chúng ta - thường không xuống hầm trú ẩn, bởi họ làm việc chăm sóc người già hoặc người khuyết tật và ở lại với những người họ chăm sóc. Đối với tôi, điều này cho thấy sự bẩn thỉu và đồi bại của chiến tranh, bởi vì những con người vô tội này - những nô lệ hiện đại - phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Những con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa này bị lãng quên, người ta không làm nhiều cho họ, và giờ họ phải trả giá bằng mạng sống.”
Tại nhiều nơi ở Trung Đông, con người đang đau khổ và bị chấn thương tâm lý. Chiến tranh phá hủy cuộc sống và chắc chắn không làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Đức Viện phụ nói thêm: “Tôi thấy thật đáng lo ngại khi người ta hò reo hay theo dõi tin tức với quá nhiều hào hứng: đây không phải là một trận bóng đá, không phải một sự kiện thể thao nơi hai quốc gia thi đấu với nhau. Chiến tranh thực sự rất bẩn thỉu!”
Vào trưa thứ Ba, ngày 03 tháng Ba, cảnh sát Israel đã đến Đan viện Dormitio và ra lệnh đóng cửa. Viện phụ nói: “Chúng tôi không được phép mở cửa, nhưng điều này rất khó đối với chúng tôi, bởi vì vẫn còn những nhóm hành hương trong nước hiện không thể rời đi. Họ rất biết ơn vì nhà thờ, nhà ăn và cửa tiệm của chúng tôi vẫn mở, và vì chúng tôi - những tu sĩ - vẫn ở đó. Chúng tôi giống như một con tàu Nôê, một bến cảng an toàn trong đại dương đau khổ này. Và giờ đây tất cả những gì chúng tôi có thể làm là cầu nguyện cho mọi người, cầu nguyện như một cộng đoàn. Tôi đau lòng vì chúng tôi không còn có thể là nơi mà mọi người biết rằng họ có thể đến cầu nguyện, lấy lại hơi thở và được an toàn.”
(Vatican News, Dom Radio 4-3-2026)