Viễn tượng đen tối về sự tồn tại của Kitô giáo tại Thánh địa
Viện phụ của Đan viện Dormitio, Đức Mẹ an nghỉ, tại Jerusalem, là cha Nikodemus Schnabel, người Đức, bày tỏ lo ngại về sự hiện diện và tương lai của Kitô giáo tại Thánh địa.
Phúc Nhạc | RVA
Trong một bài phát biểu trước các đại diện của tổ chức bác ác Công giáo quốc tế “Trợ giúp các Giáo hội đau khổ” và được hãng tin Công giáo Đức KNA truyền đi ngày 29 tháng Tư vừa qua, cha Nikodemus nói: “Nỗi lo của tôi là Thánh địa có thể trở thành một kiểu “Disneyland Kitô giáo.” Các nơi thánh vẫn còn đó, nhưng trong tương lai có thể sẽ không còn các gia đình Kitô hoặc đời sống Kitô giáo bình thường. Nơi đã diễn ra những sự kiện quan trọng nhất của đức tin chúng ta đang đối mặt với nguy cơ không còn các Kitô hữu bản địa.”
Các con số
Theo Đức Viện phụ Nikodemus, các tín hữu thuộc mọi hệ phái Kitô chiếm chưa đến 2% dân số. Tại Jerusalem có 13 nhà thờ, trong đó có 6 nhà thờ Công giáo. Tuy nhiên, đằng sau sự đa dạng lịch sử và phụng vụ này là một cộng đồng rất nhỏ về số lượng.
Kitô hữu chưa đến 2%
Xét riêng Công giáo Giáo hội Latinh, vốn là một thiểu số trong sự đa dạng này, Đức Viện phụ phân biệt ba nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất gồm các tín hữu Công giáo người Palestine nói tiếng Ả Rập: bao gồm những người sống tại Thánh địa có quốc tịch Israel, cư dân Jerusalem không có quyền chính trị, các Kitô hữu ở miền Bờ Tây bị hạn chế di chuyển, và cộng đồng Công giáo tại Dải Gaza. Theo cha Nikodemus, nhóm cuối cùng này đặc biệt dễ bị tổn thương vì sống dưới “sự chiếm đóng kép”: một mặt là áp lực từ chiến tranh và phong tỏa, mặt khác là sự áp bức từ Hamas.
- Nhóm thứ hai là các tín hữu Công giáo nói tiếng Do Thái: một cộng đồng nhỏ nhưng đang phát triển, gồm các gia đình hỗn hợp và hòa nhập vào xã hội Israel. Cha nói: “Đây là một hiện tượng mới”, nhưng có đặt câu hỏi: vừa là người Israel vừa là người Công giáo, điều này có ý nghĩa gì.
Điều kiện vô nhân đạo đối với lao động Kitô hữu di cư
- Nhóm thứ ba và lớn nhất là người di cư và người xin tị nạn, với hơn 100.000 người, theo ước tính của cha Nikodemus Schnabel. Trong số này, có nhiều người đến từ Philippines, Ấn Độ, Sri Lanka cũng như châu Phi, Đông Âu và Mỹ Latinh. Họ làm việc chủ yếu trong lĩnh vực chăm sóc, xây dựng và nông nghiệp. Cha Nikodemus mô tả tình cảnh của họ như “một dạng nô lệ tân thời”. Cha đặc biệt lên án những điều kiện vô nhân đạo mà nhiều lao động Kitô hữu tại Israel phải chịu: họ bị tịch thu hộ chiếu, hạn chế thay đổi chủ lao động, bị chia cắt gia đình và chịu một hệ thống pháp lý mà trên thực tế trừng phạt việc làm mẹ của một số lao động nữ nước ngoài.
Dưới mắt của hệ thống này, hành động “tội lỗi nhất” có thể là vì họ chọn lựa sự sống”, cụ thể là những phụ nữ từ chối phá thai và vì thế họ có nguy cơ rơi vào tình trạng cư trú bất hợp pháp cùng với con cái của họ.
Các gia đình Kitô hữu phải vật lộn để sinh tồn kinh tế
Đối với các Kitô hữu bản địa, vấn đề chính là sinh tồn kinh tế. Khoảng 60% Kitô hữu nói tiếng Ả Rập sống dựa vào du lịch. Cha Nikodemus cho biết “Năm cuối cùng tốt đẹp đối với các tín hữu thuộc nhóm này là năm 2019”. Từ sau đó, ngành du lịch bị ảnh hưởng nặng nề vì đại dịch Covid-19, xung đột và bất ổn. Khách du lịch và hành hương sụt giảm mạnh khiến nhiều gia đình mất nguồn thu nhập.
Cha Nikodemus cảnh báo rằng: Thách đố lớn nhất đối với Kitô giáo là hiện tượng người dân xuất cư đi vì không thấy tương lai. Để giữ chân các gia đình Kitô hữu tại Thánh địa, cần có nhà ở và việc làm. Nếu không có triển vọng cụ thể, các cộng đồng này sẽ biến mất. Cha cũng nhắc đến cảm nhận của nhiều Kitô hữu rằng họ không được xem là thuộc về cả câu chuyện dân tộc Israel lẫn Palestine: “Họ thường có cảm giác rằng việc họ có ở đó hay không cũng không quan trọng.”
Trong bối cảnh phân cực gia tăng, Đức Viện phụ khẳng định lập trường của Giáo hội địa phương là: “Chúng tôi không đứng về phía Israel hay Palestine, nhưng đứng về phía con người.”
Sự thù địch gia tăng đối với Kitô hữu
Cha Schnabel cho biết sự thù địch đối với Kitô hữu từ các nhóm Do Thái cực đoan đang gia tăng: có các hành vi nhổ nước bọt nơi công cộng, phá hoại, phóng hỏa, xúc phạm và viết, vẽ trên tường những câu hoặc hình vẽ thù hận. Cha lên án những hiện tượng này và nói rằng không thể tiếp tục xem chúng là những trường hợp cá biệt. Cha cũng chỉ trích một số nhân vật trong chính phủ Israel, mà theo cha đã hợp thức hóa hoặc tạo điều kiện cho các thái độ thù địch như thế.
Tuy nhiên, cha nhấn mạnh rằng đây không phải là quan điểm chung của toàn xã hội, và nhắc đến sự kiện cũng có những nhóm Do Thái bảo vệ cộng đồng Kitô hữu và lên án các hành vi bạo lực.
Cho dù số lượng Kitô hữu tại Đất Thánh rất ít, họ vẫn là chứng nhân của một di sản quan trọng: “Không có Nazareth thì không có việc loan báo Tin mừng, không có Bethlehem thì không có Giáng sinh, không có Jerusalem thì không có Phục sinh.” Và cha kết luận: “Xin hãy cầu nguyện để Kitô hữu có một tương lai tại Thánh địa!”
(Vatican News, tiếng Đức 29-4-2026)