Khủng hoảng nhân khẩu học và các cộng đồng tôn giáo tại Nga

Photo: asianews.it
Hãng tin Asia News của Hội Giáo hoàng truyền giáo Pime ở bắc Ý, truyền đi ngày 07 tháng Giêng vừa qua, cho biết mặc dù Cơ quan Thống kê Liên bang Nga (Rosstat) đã quyết định giữ bí mật dữ liệu trong suốt năm 2025, nhiều nhà nhân khẩu học độc lập cho rằng sự suy giảm dân số của Nga đang ngày càng nghiêm trọng. Những khu vực duy nhất đi ngược xu hướng này là các vùng có đa số dân theo Hồi giáo ở Bắc Kavkaz, nơi việc thực hành tôn giáo mạnh mẽ hơn nhiều so với các tín hữu của các Giáo hội Chính thống.

Phúc Nhạc | RVA

Thực vậy, tuy có những viễn cảnh lạc quan mà tuyên truyền của Điện Kremlin không ngừng nhấn mạnh, đặc biệt với giọng điệu đầy phấn khởi nhân dịp năm mới, tương lai của nước Nga vẫn hết sức bấp bênh, nhất là trước các số liệu nhân khẩu học ngày càng đáng lo ngại.

Đức Thượng phụ Kirill của Chính thống Nga khẳng định rằng đất nước “đang đặt nền móng cho một nền văn minh mới, nơi khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới, mức sống cao, giáo dục, nghệ thuật và văn hóa kết hợp với một đức tin chân thành và sâu sắc”. Tuy nhiên, Học viện Kinh tế Quốc dân Nga lại cảnh báo nguy cơ biến mất của 130 thành phố có dân số hiện tại từ 5.000 đến 10.000 người. Điều này có thể kéo theo những biến đổi đáng kể về mặt sắc tộc và tôn giáo của nước Nga.

Theo cuộc điều tra dân số năm 2010, Nga có gần 143 triệu dân (142.905.200 người), trong khi đến tháng Giêng năm 2025, Viện thống kê Rosstat ghi nhận 146.119.928 người. Tuy nhiên, mức tăng hơn ba triệu người này chủ yếu đến từ dân số của Crimea và các khu vực bị chiếm đóng một phần và được “sáp nhập” về mặt hình thức trong các vùng xung đột tại Ucraina. Trên thực tế, sự suy giảm dân số thực sự trong mười lăm năm qua là 4,4 triệu công dân, với tốc độ giảm nhanh đến mức Rosstat đã quyết định giữ bí mật dữ liệu trong suốt năm 2025 để tránh gây cảm giác thảm họa.

Nhiều nhà nhân khẩu học độc lập vẫn đặt nghi vấn về số ít dữ liệu chính thức hiện có. Một trong những người nổi tiếng nhất, Aleksej Rakýa, cho rằng dân số hiện tại của Liên bang Nga, bao gồm cả Crimea và Donbass, không vượt quá 143 triệu người; nếu không tính các “vùng lãnh thổ mới”, Nga ngày nay khó đạt tới 140 triệu dân. Với nhịp độ này, đến năm 2100 dân số có thể giảm một nửa xuống còn 70 triệu người, hoặc trong kịch bản lạc quan hơn cũng không vượt quá 120 triệu.

Ngay cả các dự báo chính thức cũng không mấy khả quan, khi ít nhất đến năm 2030, dân số vẫn sẽ tiếp tục giảm; trong vòng hai mươi năm nữa, dân số có thể không vượt quá 130 triệu người, với hy vọng vào thành công của các chiến dịch tuyên truyền về “sinh sản của giới trẻ” và không tính đến tổn thất do chiến tranh và các cuộc xung đột khác. Hội đồng Đại Tây Dương tại Washington đã công bố một bài viết của Charlie Walker, nhà sử học thuộc Đại học Georgetown, đặt ra câu hỏi đầy kịch tính: “Liệu nước Nga có còn người Nga không?”, khi tính toán rằng trong tổng số 142 triệu dân năm 2010, người Nga theo sắc tộc chỉ chiếm từ 74 đến 112 triệu.

Thực tế cho thấy, trong số khoảng 100 chủ thể liên bang, những khu vực duy nhất ghi nhận mức tăng dân số dù rất khiêm tốn là các vùng có đa số dân theo Hồi giáo ở Bắc Kavkaz. Ngoài ra còn có những người nhập cư, chủ yếu đến từ Trung Á, cũng phần lớn theo Hồi giáo; dù bị hạn chế trong những năm gần đây, mỗi năm vẫn có khoảng 200.000 người trong số họ được cấp quốc tịch Nga, trong khi tổng dân số người Nga theo Chính thống giáo lại giảm khoảng một triệu người mỗi năm. Các “giá trị gia đình truyền thống” và xu hướng sinh sản tự nhiên ngày càng trở thành đặc trưng của cộng đồng Hồi giáo, là công dân Nga nhưng không thuộc sắc tộc Nga.

Theo Cơ quan Quản lý Tôn giáo của người Hồi giáo tại Nga, hiện nay có hơn 20 triệu người Hồi giáo sinh sống tại Nga; đến năm 2050 con số này dự kiến sẽ vượt 30 triệu, chưa kể lao động nhập cư từ Trung Á. Trong khi đó, số người Nga vào thời điểm đó có thể giảm xuống còn 80 triệu. Nếu các xu hướng này tiếp diễn, đến năm 2075, số người Nga ít nhiều theo Chính thống giáo sẽ gần tương đương với số dân thuộc các sắc tộc gắn bó mạnh mẽ hơn với đức tin Hồi giáo, và khi đó Nga hoàn toàn có thể được xem là một quốc gia Hồi giáo.

Các nhà xã hội học chính thức hiện nay cho rằng khoảng 70% dân số tự nhận là tín hữu Chính thống, nhưng tỷ lệ tham dự các nghi lễ tôn giáo không vượt quá 3%, trong khi người Hồi giáo thực hành các buổi cầu nguyện chính thức đều đặn hơn nhiều. Do đó, xét trên phương diện thực hành tôn giáo, nước Nga ngày nay đã mang tính Hồi giáo nhiều hơn là Kitô giáo.

Cuộc “phục hưng tôn giáo” thời hậu Xô Viết, mặc dù chứng kiến việc xây dựng và mở cửa trở lại rất nhiều nhà thờ Chính thống mà Thượng phụ Kirill thường xuyên tự hào nhắc đến, thực tế không cho thấy sự gia tăng của các tín hữu thực hành trong nhiều năm qua, đặc biệt kể từ khi ông Putin lên nắm quyền tổng thống, tức từ Năm Thánh 2000. Trái lại, các hình thức thực hành huyền bí đang gia tăng, dù hoàn toàn không thể so sánh với sự nhiệt thành trong việc tuyên xưng đức tin Hồi giáo: trong lễ Kurban-Bayram gần đây nhất, hơn nửa triệu tín hữu đã tụ tập tại hai thủ đô Mascơva và Saint Petersburg, trong khi số tín hữu Chính thống tham dự lễ Phục sinh chỉ khoảng 200.000 người.

(Asia News 7-1-2025)

Tags

Trực tiếp

Livesteam thumbnail