Kết thúc cuộc điều tra cấp giáo phận để xin phong chân phước cho mười hai vị tử đạo của Giáo hội Công giáo Campuchia thời Pol Pot

Giáo hội Công giáo tại Campuchia đã kết thúc các cuộc điều tra, thu thập chứng từ để làm hồ sơ xin phong chân phước cho mười hai vị tử đạo bị sát hại trong cuộc diệt chủng của Khmer Đỏ, gồm Đức giám mục Joseph Chhmar Salas và mười một tín hữu, bị sát hại trong cuộc diệt chủng của Khmer Đỏ.

G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA

Hôm 18 tháng Ba vừa qua, tại Tòa Giám mục Phnom Penh, giai đoạn cấp giáo phận của tiến trình phong chân phước cho Đức giám mục Joseph Chhmar Salas và mười một bạn hữu của ngài đã chính thức khép lại. Đây là tiến trình đầu tiên, theo giáo luật, nhằm xác nhận việc tử đạo được Giáo hội Campuchia khởi xướng, một Giáo hội còn rất non trẻ này, vốn được tái sinh vào những năm 1990, sau cuộc diệt chủng do Khmer Đỏ gây ra.

Mười hai chứng nhân đức tin này - sau một cuộc khảo sát kỹ lưỡng kéo dài mười năm - nay có toàn bộ hồ sơ được gửi về Bộ Phong thánh ở Rôma để xác nhận việc tử đạo. Tất cả đều là những người bị chế độ Pol Pot sát hại, trong khoảng từ năm 1970 đến 1977.

Đứng đầu trong danh sách là Đức cha Joseph Chhmar Salas, người Campuchia đầu tiên được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông tòa Phnom Penh năm 1975, ngay trước khi Khmer Đỏ tiến vào thủ đô.

Cùng với Đức giám mục, còn có các linh mục người Campuchia: cha Joseph Chhmar Salem, em trai của ngài, và cha Marcel Trương Sang Samronh; cha Pierre Rapin, thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP); Đan sĩ Dòng Biển Đức Charles Badré; linh mục Damien Đặng Ngọc An thuộc Dòng Thánh Gia Banam của Việt Nam; hai nữ tu Jacquelin Kim Song và Lydie Nou Savan thuộc Dòng Quan Phòng Portieux; cùng bốn giáo dân: Joseph Som Kinsan, Pierre Chhum Somchay, Joseph Thong và Joseph Ros En.

Lắng nghe hàng chục nhân chứng

Chủ sự buổi lễ là Đức cha Olivier Schmitthaeusler, Đại diện Tông tòa Phnôm Pênh, thuộc Hội Thừa sai Paris. Ngài so sánh lòng trung thành của Đức cha Salas đối với dân tộc của mình tương tự như các đan sĩ Xitô ở Đan viện Tibhirine bên Algeria bị sát hại.

Tham dự buổi lễ cũng có Đức cha phó của địa phận Phnom Penh, Pierre Suon Hangly, vị giám mục Campuchia thứ hai trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại nước này. Ngài đang kế thừa di sản của vị giám mục đã qua đời năm 1977. Ngoài ra cũng có sự hiện diện của khoảng 50 linh mục từ ba địa phận ở Campuchia là Phnom Penh, Kampong Cham và Battambang, cùng khoảng 200 tu sĩ, giáo dân. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự kiện đối với toàn thể cộng đồng Công giáo địa phương.

Phát biểu trong buổi lễ, Đức cha Schmitthaeusler nhắc lại rằng án phong chân phước đã được mở vào tháng Năm năm 2015. Trong suốt mười năm qua, hàng chục nhân chứng, từng sống dưới thời Pol Pot và biết rõ các vị này, đã được phỏng vấn. Ban đầu có 35 trường hợp được cứu xét, nhưng sau đó tập trung vào 12 vị.

Đức cha nói: “2.500 trang tài liệu này là chứng tá cho các thế hệ tín hữu ngày nay. Những con người này thuộc về dân Thiên Chúa, đại diện cho tất cả những ai đã đau khổ và chết đi trong khi cầu xin Chúa đón nhận họ vào Nước Ngài. Những hồ sơ này sẽ được gửi về Rôma: chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện để các vị tử đạo giả định này được đề ra cho Giáo hội hoàn vũ như một hồng ân và chứng tá đức tin vô giá của Giáo hội Campuchia trước thế giới”.

Đức cha Salas và cha Rapin: Những cuộc đời hiến dâng vì tình yêu

Hồ sơ của mười hai Kitô hữu được gửi đến Bộ Phong thánh để cứu xét việc tử đạo phản ánh sự tàn bạo của cuộc diệt chủng Pol Pot - theo ước tính của các sử gia, từ năm 1975 đến 1979 đã có từ 1,5 đến 2 triệu người bị sát hại, tức khoảng một phần tư dân số Campuchia.

Tuy nhiên, những câu chuyện này cũng cho thấy ánh sáng của một đức tin sâu xa, qua đó cộng đoàn Công giáo nhỏ bé tại Campuchia - được hình thành từ năm thế kỷ trước do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha - đã đối diện với thử thách dưới chế độ cộng sản muốn xóa bỏ họ cùng mọi thứ đi ngược lại ý thức hệ của mình.

Cha Joseph Chhmar Salas, khi đó 37 tuổi, đang học tập tại Pháp thì mùa xuân năm 1975 nhận được thư của Đức cha Yves Ramousse, Đại diện Tông tòa Phnom Penh, yêu cầu trở về gấp, vì khi Khmer Đỏ vào thủ đô, người nước ngoài sẽ bị trục xuất, và Giáo hội cần ngay một giám mục người bản địa.

Cha Salas được tấn phong giám mục chỉ ba ngày trước khi Phnôm Pênh thất thủ và được gửi đến làng Tangkok (tỉnh Kampong Cham) để bảo vệ cộng đoàn. Ngài sống tại đó một thời gian với một số Kitô hữu và gia đình, trong đó có người chị Pracot - người sống sót và là nhân chứng quan trọng - cùng em trai Salem (cũng là linh mục) và cha Chamroeun.

Sau đó, Đức cha Salas tự nguyện đi lao động cưỡng bức với hy vọng có thể gặp lại các tín hữu tản mác. Kiệt sức, ngài qua đời năm 1977 vì đói khổ và bệnh tật trong một ngôi chùa được dùng làm bệnh viện.

Người chị kể lại rằng các thánh lễ được cử hành bí mật trong túp lều tranh, dùng giường làm bàn thờ, trong khi bên ngoài các Kitô hữu giả vờ làm ruộng để cảnh báo khi Khmer Đỏ đến gần. Thánh giá đeo ngực của Đức cha Salas, được mẹ cất giữ trong chuồng gà, sau đó được trao lại năm 2001 cho Đức cha Emile Detombes và trở thành dấu tích quý giá của Giáo hội Campuchia.

Ba năm trước khi Phnôm Pênh sụp đổ, năm 1972, cha Pierre Rapin - nhà truyền giáo người Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris - đã bị sát hại tại làng Kdol Leu. Từ năm 1970, khu vực của ngài đã nằm dưới sự kiểm soát của Khmer Đỏ. Dù biết nguy hiểm, ngài vẫn ở lại và viết: “Các Kitô hữu xin tôi ở lại, xin vâng theo ý Chúa”.

Đêm 23 rạng 24 tháng Hai năm 1972, ngài bị thương do chất nổ gài vào nhà. Dù không nguy kịch, Khmer Đỏ vẫn ép đưa ngài đi và hôm sau trả lại thi thể. Trước đó, khi bị thương, cha nói: “Nếu những người muốn giết tôi bị bắt, hãy tha thứ cho họ, đừng làm hại họ. Trả thù không ích gì. Hãy tin vào Thiên Chúa”.

Tiểu sử bốn giáo dân

Tiểu sử của bốn giáo dân tuy khó tái dựng hơn nhưng không kém phần ý nghĩa. Cha Vincent Chrétienne, nhà truyền giáo MEP và là Chủ tịch Ủy ban lịch sử của án phong chân phước, kể lại:

- “Joseph Ros En là giảng viên đại học tại Phnôm Pênh. Ông bị giết vì bị tố cáo vừa là trí thức vừa là Kitô hữu. Khi bị thẩm vấn, ông xác nhận: “Đúng, tôi là Kitô hữu”. Vì thế, chúng tôi gần như chắc chắn ông bị giết vì đức tin”.

- “Joseph Thong là một giáo lý viên; Joseph Som Kinsan là một quân nhân bị bắt ngay sau ngày 17 tháng Tư năm 1975 - ngày Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh. Đặc biệt là Pierre Chhum Somchay: ông có mười hai người con, tất cả đều bị giết trong các cuộc thảm sát. Tuy vậy, ông vẫn giữ một cuốn sổ nhỏ ghi lời cầu nguyện cho từng người con. Cuối cùng, năm 1977, ông cũng bị giết, khi Khmer Đỏ phát hiện ông là Kitô hữu”.

(Asia News 18-3-2026)