Tiếp kiến chung của Đức Thánh cha: Chuyến tông du tại Pháp là dấu hiệu của sự tái sinh
Lúc 10 giờ sáng thứ Tư, ngày 30 tháng Chín vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến chung hơn 30.000 tín hữu hành hương tại Quảng trường thánh Phêrô. Hiện diện trong dịp này, cũng có giám mục các nước cùng đông đảo các đôi tân hôn.
Phúc Nhạc | RVA
Như thường lệ, trước khi bắt đầu buổi tiếp kiến, Đức Thánh cha tiến ra quảng trường trên chiếc xe díp mui trần màu trắng, tiến dọc theo các lối đi để chào thăm các tín hữu và chúc lành cho một số em bé được nhân viên an ninh bế lên trước ngài.
Tại lễ đài, Đức Thánh cha làm dấu thánh giá và chào phụng vụ mở đầu buổi tiếp kiến. Các độc viên lần lượt công bố bằng chín ngôn ngữ khác nhau một đoạn trích từ thư thánh Phaolô gởi tín hữu thành Colossê (Cl 1,3-6):
“Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, là Cha của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, khi chúng tôi cầu nguyện cho anh em, bởi vì chúng tôi đã được nghe nói về đức tin của anh em trong Đức Kitô Giêsu và về lòng bác ái anh em dành cho tất cả các thánh, vì niềm hy vọng dành cho anh em ở trên trời. Anh em đã được nghe nói về niềm hy vọng ấy trước đây qua lời chân lý là Tin mừng, đã đến với anh em. Cũng như Tin mừng ấy sinh hoa kết quả và phát triển trên toàn thế giới, thì giữa anh em cũng vậy, kể từ ngày anh em nghe và nhận biết ân sủng của Thiên Chúa trong sự thật.”
Huấn giáo
Trong bài huấn giáo tiếp đó, vì mới tông du bốn ngày tại Pháp trở về nên Đức Thánh cha tạm gác lại loạt bài về Hiến chế “Vui mừng và hy vọng”, Gaudium et Spes, để thuật lại những nét nổi bật trong chuyến viếng thăm của ngài tại Pháp và nơi tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc.
Đức Thánh cha nói: “Anh chị em thân mến, xin chào anh chị em!
Hôm nay, tôi muốn nói với anh chị em về chuyến Tông du tại Pháp mà tôi đã thực hiện trong những ngày vừa qua. Đó là một hồng ân lớn lao đối với tôi và đối với Dân Chúa tại đất nước ấy, và tôi xin tạ ơn Chúa. Tôi một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những ai đã đón tiếp tôi, các Nhà Chức trách dân sự cũng như các vị Chủ chăn của Giáo hội, và đối với biết bao người đã muốn gặp Giáo hoàng, hoặc chỉ đơn giản là chào đón tôi trên các đường phố, như một tông đồ của Đức Kitô và sứ giả của hòa bình. Xin cảm ơn tất cả mọi người!”
Nhà thờ Đức Bà
“Tôi muốn tập trung những suy nghĩ và những ấn tượng - vẫn còn hết sức sống động - về chuyến viếng thăm mục vụ này chung quanh một biểu tượng lớn duy nhất, đó là Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris). Tại đó, vào buổi chiều của ngày đầu tiên (25-9), chúng tôi đã cử hành Kinh Chiều kính Đức Trinh Nữ Maria, một phụng vụ long trọng nhưng đồng thời cũng tràn đầy niềm vui, trong đó âm nhạc, lời ca và vẻ đẹp của ngôi thánh đường làm rung động những tâm hồn hiệp nhất trong lời cầu nguyện.
Chính Nhà thờ Đức Bà này, với thảm kịch thánh đường này đã trải qua, có thể mang tính biểu tượng soi sáng toàn bộ Chuyến Tông du này, cung cấp một chìa khóa để đọc hiểu, mà tôi có thể tóm lại trong một từ: tái sinh.
Nhà thờ Chính tòa Paris, chỉ bảy năm trước đây dường như bị tử thương vì trận hỏa hoạn kinh khủng, thì nay đã được tái thiết và rực rỡ hơn bao giờ hết. Thảm họa ấy đã tạo nên một phản ứng tích cực ở mọi cấp độ, một số có thể nhìn thấy và mang tính thực tiễn hơn, những điều khác kín đáo hơn và thuộc về lãnh vực tinh thần. Việc trùng tu Nhà thờ là một bằng chứng về khả năng hợp tác giữa Giáo hội, Nhà nước, các cơ quan công quyền và xã hội dân sự. Thái độ này đã giúp phát huy cách tốt nhất lòng quảng đại của những người hảo tâm, cũng như năng lực chuyên môn của các chuyên gia và những người thợ. Sự hiệp lực vì công ích phải là phong cách bình thường của các cơ quan, của các lực lượng chính trị và xã hội, của tất cả những ai mang trách nhiệm dân sự và kinh tế. Đó là sứ điệp tôi muốn trao gửi cho các Nhà Chức trách Pháp, cũng như cho các thành viên của UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, có trụ sở tại Paris, khi chỉ ra tiêu chuẩn nền tảng trên đó phải xây dựng sự hợp tác ấy: phẩm giá của con người.
Nhưng trên hết, Nhà thờ Đức Bà là hình ảnh của Giáo hội được xây dựng bằng những viên đá sống động, là dân thánh của Thiên Chúa.
Thật thú vị khi đặt việc cử hành Kinh Chiều trong Nhà thờ Chính tòa song song với Đêm Canh thức của giới trẻ diễn ra ngay tối hôm đó, 25 tháng Chín, tại Sân vận động “Stade de France” ở Paris. Hai địa điểm hoàn toàn khác nhau, nhưng lại là hai biến cố bổ sung cho nhau, gần như được liên kết với nhau về mặt thiêng liêng. Điều gì liên kết hai nơi ấy? Giáo hội, không được xây dựng bằng đá hay xi măng, nhưng bằng những con người yêu mến Đức Giêsu Kitô bởi vì họ đã được Người yêu thương. Tại Nhà thờ Notre-Dame có các linh mục và phó tế, những người sống đời thánh hiến, các nhân viên mục vụ; còn tại sân vận động là thế hệ trẻ mới của nước Pháp: tôi muốn nói mới không chỉ về tuổi tác, nhưng còn hơn thế nữa, vì tinh thần, vì sự tự do của tâm hồn và của đức tin. Những người trẻ đã hát, đã hò reo, nhưng họ cũng biết giữ thinh lặng và lắng nghe. Những khuôn mặt chăm chú và xúc động biểu lộ những tâm hồn khao khát sự thật và tình yêu. Tôi đã vui mừng nói với họ: “Các bạn là những vị thánh của nước Pháp!” Đêm Canh thức ấy là một dấu chỉ hy vọng lớn lao.
Cũng như cuộc gặp gỡ tại Trung tâm “Maison Bakhita”, trong sự nhỏ bé vốn được Thiên Chúa ưu ái, cũng là một dấu chỉ như thế. Đây là một ngôi nhà đón tiếp nhiều người đang gặp khó khăn: một trong rất nhiều nơi chốn, là những hoa trái của Tin mừng, nơi người ta dấn thân hằng ngày để phục vụ phẩm giá con người bằng tình yêu thương.
Công nghị giáo tỉnh thủ đô Pháp
Tuy nhiên, trong Giáo hội tại Pháp còn có một dấu chỉ tái sinh đã kéo dài từ vài năm, đó là số lượng đáng kể và ngày càng gia tăng những người trẻ và người trưởng thành xin lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Trước “bất ngờ” tốt đẹp này của Thiên Chúa, tại Paris đang diễn ra một Công nghị giáo tỉnh, trong đó tôi đã có thể tham dự, khích lệ hành trình của những người dự tòng và những tân tòng, cùng với các cộng đoàn liên hệ của họ.
Thánh lễ
Biến cố cao điểm trong chuyến thăm của tôi tại Thủ đô Pháp là thánh lễ tại Quảng trường Concorde. Tại đó, dấu chỉ của sự tái sinh đã xuất hiện một cách đáng kinh ngạc: cộng đoàn phụng vụ, quy tụ trong quảng trường rộng lớn các linh mục, ca đoàn và một đám đông đông đảo, đã trải dài suốt Đại lộ Champs-Élysées, đến tận Khải Hoàn Môn và xa hơn nữa. Vào lúc Rước lễ, tất cả mọi người đều có thể tiến đến lãnh nhận Thánh Thể, được trao ban tại khắp mọi nơi. Đây mới là sự tái thiết đích thực, là sự trùng tu Giáo hội mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể thực hiện, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria.
Đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức
“Và vì thế, thật tự nhiên và cũng là điều cần thiết, sau Paris, tôi hành hương tại Lộ Đức, để tôn kính Mẹ của Giáo hội, Đức Maria, Đấng vào giờ của cuộc thương khó và cái chết đã giữ cho ngọn đèn đức tin và niềm hy vọng luôn cháy sáng. Tại Lộ Đức, qua sự ân cần của tình mẫu tử nơi Đức Trinh Nữ Maria, Chúa trao ban cho tất cả mọi người, những người hành hương và cách riêng những người đau yếu về thể xác cũng như tinh thần, một sứ điệp hy vọng và tái sinh. Đó là một sứ điệp mà tôi muốn công khai nhắc lại: mọi sự sống con người, trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng mong manh nghiêm trọng nhất, vẫn giữ nguyên phẩm giá bất khả xâm phạm của mình và xứng đáng được chăm sóc, được đồng hành, được nâng đỡ khỏi đau khổ bằng lòng trắc ẩn của con người và bằng sự trợ giúp của những phương tiện mà khoa học cung cấp. Vì lý do đó, Lộ Đức là một đền thánh của nền văn minh tình yêu cho toàn thế giới. Trong bối cảnh này, tôi đã gặp một số người là nạn nhân những vụ lạm dụng và tôi đã xin họ giúp tôi bày tỏ với những nạn nhân khác nữa ý muốn của tôi và của toàn thể Giáo hội là lắng nghe họ và đồng hành với họ trong khi họ tìm kiếm sự chữa lành, nhìn nhận nỗi đau đã gây ra trong cuộc đời họ và nỗ lực làm việc để phòng ngừa các vụ lạm dụng.
Thành phố Metz
Đức Thánh cha nói tiếp: “Chặng thứ ba và cũng là chặng cuối cùng của Chuyến Tông du là thành phố Metz, thuộc một vùng của nước Pháp và châu Âu đã từng chịu nhiều đau thương bởi Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Tại đó đã có sự hoạt động của ông Robert Schuman, một trong những người truyền cảm hứng chính cho tiến trình thống nhất châu Âu. Châu Âu đương đại đã ra đời chính như một dự án hòa bình, sau sự tàn phá của chiến tranh. Chúng ta có thể nói rằng điều đã xảy ra tại Nhà thờ Notre-Dame de Paris với trận hỏa hoạn cũng đã xảy ra tại châu Âu với Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Và châu Âu đã tái sinh, dựa trên những nguyên tắc dân chủ, liên đới và tình huynh đệ giữa các dân tộc, những điều mang ơn rất nhiều đối với các cội nguồn Kitô giáo của châu lục này. Ngay cả ngày nay, chính trên những nền tảng ấy và với “dòng nhựa sống” ấy mà dự án châu Âu có thể được đổi mới, trong một thế giới đã toàn cầu hóa sâu rộng hơn nhiều, nơi đối thoại liên tôn giữ một vai trò hết sức quan trọng. Vì thế, tại Metz, tôi đã gặp gỡ các đại diện của những truyền thống tôn giáo khác nhau. Họ đã đọc và ký kết trước sự hiện diện của tôi “Lời Kêu gọi Metz” vì đối thoại và hòa bình.
Và Đức Thánh cha kết luận rằng:
“Anh chị em rất thân mến, chủ đề của Chuyến thăm mục vụ của tôi tại Pháp là: “Pour que le monde ait la vie” - “Để thế gian được sống” (x. Ga 6,51). Đó là những lời của Đức Giêsu, những lời tóm kết toàn bộ sứ mạng cứu độ của Người và, trong suốt Chuyến Tông du, đã diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Tin mừng của từng cuộc gặp gỡ. Giờ đây, ước gì những lời ấy gợi cảm hứng cho lời cầu nguyện của chúng ta, khi chúng ta xin Thiên Chúa ban cho biến cố ân sủng này sinh được những hoa trái dồi dào và lâu bền.
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau bài huấn giáo bằng tiếng Ý trên đây của Đức Thánh cha, các độc viên lần lượt tóm tắt bằng chín thứ tiếng khác nhau, kèm theo những lời chào thăm và nhắn nhủ của ngài.
Khi chào bằng tiếng Pháp, Đức Thánh cha nói: “Anh chị em thân mến, xin chào anh chị em! Trở về sau Chuyến Tông du tại Pháp, nơi tôi đến với tư cách là tông đồ của Đức Kitô, “để thế giới được sống”, tôi tạ ơn Thiên Chúa vì sự nhiệt thành mà tôi đã gặp thấy.
Dù là trong vẻ huy hoàng đã được phục hồi của Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris), nơi chúng ta cử hành trọng thể Kinh Chiều; hay trong đêm canh thức không thể nào quên tại Sân vận động Pháp (Stade de France) với các bạn trẻ - những vị thánh mới của nước Pháp! - hay dọc theo các đường phố, hoặc trước đám đông khổng lồ tại Quảng trường Concorde và dọc theo Đại lộ Champs-Élysées, niềm vui và lòng nhiệt thành của Dân Chúa - với đông đảo những người dự tòng - đã được biểu lộ cách mạnh mẽ. Đám đông ấy có khả năng giữ thinh lặng và hồi tâm, những điều vốn thuộc về những tâm hồn khao khát sự thật và tình yêu; đó là một dấu chỉ lớn lao của sự tái sinh và niềm hy vọng.
Phẩm giá con người như tiêu chuẩn nền tảng của mọi sự hợp tác nhằm phục vụ công ích, điều mà tôi đã nhắc lại trước các Nhà Chức trách Pháp cũng như trước các thành viên của tổ chức UNESCO, cũng đã được đặt ở trung tâm những cuộc gặp gỡ với những người dễ bị tổn thương nhất tại Paris và Lộ Đức.
Lộ Đức là nơi được chúc phúc, nơi Đức Trinh Nữ Maria, nhân danh Con của Mẹ, trao ban cho tất cả những người hành hương đang đau khổ trong thân xác cũng như trong tâm hồn một sứ điệp hy vọng.
Tại đó, tôi đã mạnh mẽ nhắc lại rằng mọi sự sống con người, kể cả trong những hoàn cảnh mong manh nhất, vẫn giữ nguyên phẩm giá bất khả xâm phạm của mình và xứng đáng được chăm sóc, được đồng hành và được làm vơi nhẹ đau khổ.
Sau cùng, Metz, một địa điểm mang tính biểu tượng trong công cuộc xây dựng hòa bình tại châu Âu cùng với vị Đáng kính Robert Schuman, vào thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, đã là dịp để nhắc lại cội nguồn Kitô giáo của châu Âu, cũng như sự quan tâm của châu lục này đối với những nguyên tắc đối thoại và hòa bình giữa các quốc gia và giữa những truyền thống tôn giáo khác nhau.
Đức Thánh Cha nói thêm rằng: “Tôi thân ái chào các tín hữu hành hương nói tiếng Pháp, đến từ Canada, Pháp và Luxembourg. Tôi đã rất xúc động trước lòng nhiệt thành và sự phấn khởi mà tôi đã được đón tiếp tại Pháp! Tôi tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện để các vị mục tử tiếp tục đáp ứng những mong đợi của các tín hữu, đặc biệt là những mong đợi của giới trẻ. Tôi hết lòng ban phép lành cho anh chị em!”
Sau khi chào các tín hữu nói tiếng Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, tiếng Hoa và Arập, Đức Thánh cha chào các tín hữu Ba Lan và nói rằng:
“Ba mươi năm trước, Thánh Gioan Phaolô II đã phong Chân phước cho Vinh-sơn Lewoniuk và 12 người bạn, là những vị tử đạo. Cho đến khi đổ máu, các ngài đã bảo vệ sự thuộc về của mình đối với Giáo hội Công giáo và sự hiệp thông với Đấng Kế vị Thánh Phêrô, đồng thời vẫn trung thành với truyền thống Đông phương của mình. Tôi phó thác cho lời chuyển cầu của các ngài những vấn đề liên quan đến sự hiệp nhất của các môn đệ Đức Kitô và những người Công giáo ngày nay đang bị bách hại vì đức tin. Chúc tụng Đức Giêsu Kitô!”
Sau cùng bằng tiếng Ý, Đức Thánh cha nói: “Chúa nhật vừa qua, tại Bologna, ba linh mục tử đạo đã được phong chân phước, đó là cha Ubaldo Marchioni, linh mục giáo phận; Elia Comini, linh mục Dòng Salêdiêng; và cha Martino Capelli, linh mục Dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu (Dehon). Các ngài đã bị sát hại vào năm 1944, trong một giai đoạn bi thảm của Thế chiến thứ Hai, vì các đội quân Quốc xã khinh miệt thừa tác vụ của các ngài phục vụ các giáo dân trong giáo xứ.
Hy tế tối cao của những thừa tác viên của Thiên Chúa này cho các Kitô hữu ngày nay thấy lòng can đảm để trở nên người thân cận với anh chị em mình, đặc biệt trong những lúc thử thách.
Tôi nồng nhiệt chào mừng các tín hữu hành hương nói tiếng Ý, đặc biệt là các Nữ tử Truyền giáo Thánh Gia Nazareth, giáo xứ Santa Maria della Valle ở Scanno, cũng như các giáo xứ Ferrara di Monte Baldo và Tesero, cùng với Đức giám mục Verona, Đức cha Domenico Pompili. Tôi cũng chào Trung tâm Đào tạo Nghề “Artigianelli” ở Fermo, các học sinh trường trung học Visconti ở Roma và các học sinh trường trung học Gonzaga ở Palermo.
Sau cùng, tôi hướng tâm tưởng đến giới trẻ, những người đau yếu và các đôi tân hôn.
Ước gì Tháng Mười này trở thành dịp để chúng ta lần chuỗi Mân Côi, đặc biệt dâng lên cho việc chấm dứt các cuộc chiến tranh và đạt được hòa bình.
Xin Thiên Chúa ban phép lành cho tất cả anh chị em”.
Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành của Đức Thánh cha.
