Tiếp kiến chung của Đức Thánh cha: Đức tin hiện diện trong các nền văn hóa và biến đổi chúng từ bên trong theo “khuôn mẫu” của Đức Giêsu Kitô
Lúc 10 giờ sáng thứ Tư, ngày 28 tháng Mười vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến chung hơn 30.000 tín hữu hành hương tại Quảng trường thánh Phêrô.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Hiện diện trong dịp này, cũng có gần 20 giám mục các nước và hàng trăm đôi tân hôn. Đặc biệt, trên thềm Đền thờ, gần lễ đài của Đức Thánh cha, có hàng chục bệnh nhân và người khuyết tật ngồi xe lăn, được Hội Hiệp sĩ Malta, phân bộ Áo quốc, chăm sóc.
Như thường lệ, trước khi bắt đầu buổi tiếp kiến, Đức Thánh cha tiến ra Quảng trường, dọc theo các lối đi để chào thăm các tín hữu và chúc lành cho một số em bé được nhân viên an ninh bế lên trước ngài.
Tại lễ đài, Đức Thánh cha làm dấu thánh giá và chào phụng vụ mở đầu buổi tiếp kiến. Các độc viên lần lượt công bố bằng chín ngôn ngữ khác nhau một đoạn trích từ sách Tông đồ Công vụ (Cv 17,22-23):
“Đứng giữa Diễn trường Areôpagô, ông Phaolô nói: “Thưa quý vị người Athen, tôi nhận thấy trong mọi sự, quý vị là những người rất sùng đạo. Thật vậy, khi đi ngang qua và quan sát những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy cả một bàn thờ có khắc dòng chữ: “Kính thần vô danh”. Vậy, Đấng mà quý vị thờ kính mà không biết, thì tôi xin loan báo cho quý vị biết”.
Huấn giáo
Trong bài huấn giáo sau đó, Đức Thánh cha đã tiếp tục loạt bài về Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, Vui mừng và hy vọng, Giáo hội trong thế giới ngày nay. Bài này là bài thứ bảy trong loạt bài nói trên và có tựa đề là: “Mối tương quan giữa đức tin và văn hóa (GS, 53-62).
Mở đầu bài huấn giáo, Đức Thánh cha nói:
“Anh chị em thân mến, chào tất cả anh chị em!
Công đồng Vatican II không thể không đề cập đến văn hóa và mối tương quan giữa văn hóa với đức tin Kitô giáo. Công đồng trình bày vấn đề này trong chương thứ hai của phần thứ hai của Hiến chế Gaudium et spes (GS).
Từ trước đến nay, Giáo hội Công giáo luôn quan tâm đến việc tháp tùng công cuộc loan báo Tin mừng bằng cách thiết lập các trường học thuộc mọi loại hình, nhằm nâng cao trình độ đào luyện nhân bản, văn hóa và thiêng liêng cho nam giới và nữ giới trên khắp năm châu. Như chúng ta biết, các trường đại học thời Trung cổ đã ra đời từ lòng Giáo hội và góp phần mang tính quyết định vào sự phát triển của nền văn minh phương Tây. Đồng thời, sự tiến bộ của văn hóa và tri thức cũng đặt ra những vấn nạn ngày càng mới mẻ và sâu sắc hơn, thúc đẩy các tín hữu biết trình bày lý do và nền tảng cho niềm tin của mình (x. 1 Pr 3,15-17). Sau cùng, vì là những biểu hiện của chiều kích thiêng liêng nơi con người, các hình thức biểu đạt văn hóa khác nhau góp phần mở rộng tâm trí trước những câu hỏi muôn thuở về ý nghĩa của thế giới và sự hiện hữu của con người, qua đó chuẩn bị cho con người đón nhận Tin mừng của Đức Giêsu Kitô.
Mối tương quan giữa đức tin và văn hóa có nền tảng chủ yếu nơi mầu nhiệm Nhập Thể: nếu Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (x. Ga 1,14), thì đức tin cũng là một thực tại nhập thể, gắn kết với nền văn hóa mà trong đó đức tin hiện diện. Đức tin còn được mời gọi trở thành văn hóa, nghĩa là chạm đến con người ngay trong môi trường sống của họ, một môi trường được hình thành bởi ngôn ngữ của con người, các truyền thống, cảm thức tôn giáo, nghệ thuật và thi ca, tư tưởng và khoa học. Như Thánh Gioan Phaolô II thường nhắc lại: “Một đức tin không trở thành văn hóa là một đức tin chưa được đón nhận cách trọn vẹn, chưa được suy tư cách đầy đủ và chưa được sống cách trung thành” (Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn dành cho các tham dự viên Hội nghị của Phong trào Giáo hội dấn thân vào văn hóa (MEIC), ngày 16 tháng 1 năm 1982.)
Đức tin có thể nhập thể trong mọi nền văn hóa, bởi vì đức tin không đồng nhất với bất kỳ nền văn hóa cụ thể nào. Đức tin hiện diện trong các nền văn hóa và biến đổi chúng từ bên trong theo “khuôn mẫu” của Đức Giêsu Kitô, nghĩa là theo tinh thần bác ái, phục vụ và nhìn nhận Thiên Chúa là Cha với tâm tình người con. Nhờ đó, Giáo hội nhận ra nơi các nền văn hóa khác nhau những gì là tốt đẹp, chân thiện mỹ, để làm cho sứ điệp Tin mừng được nhập thể và truyền đạt. Đồng thời, vì Giáo hội được “sai đến với mọi dân tộc, thuộc mọi thời đại và mọi nơi chốn, nên Giáo hội không bị ràng buộc một cách độc quyền và bất khả phân ly với bất kỳ chủng tộc hay quốc gia nào, với bất kỳ lối sống đặc thù nào, cũng như với bất kỳ tập tục cổ xưa hay mới mẻ nào. Trung thành với truyền thống của mình, đồng thời ý thức về tính phổ quát của sứ mạng, Giáo hội có thể bước vào sự hiệp thông với những hình thức văn hóa khác nhau; sự hiệp thông ấy làm phong phú cả chính Giáo hội lẫn các nền văn hóa khác nhau” (GS, 58).
Giáo hội cổ võ văn hóa vì văn hóa tự thân là một điều thiện, đồng thời là sự phục vụ con người và giúp con người hoàn thành ơn gọi của mình trên trần thế. Vì lý do này, Hiến chế Gaudium et spes kêu gọi cộng đồng quốc tế bảo đảm để mọi người đều có thể tiếp cận những thành quả văn hóa căn bản, vượt qua tình trạng mù chữ và thiếu cơ hội học tập. Công đồng mạnh mẽ khẳng định rằng tất cả những ai có đủ khả năng theo học bậc đại học đều phải được tạo điều kiện để thực sự có thể thực hiện điều đó. Hơn nữa, “bổn phận của mọi người là bảo đảm để sự tham gia riêng có và cần thiết của phụ nữ vào đời sống văn hóa được nhìn nhận và cổ võ” (GS, 60).
Ngoài ra, Hiến chế Gaudium et spes khẳng định sự cần thiết phải định hướng việc giảng dạy theo hướng đạt tới một sự thống nhất của tri thức, mặc dù những điều kiện sống đã thay đổi có thể khiến việc thực hiện mục tiêu này trở nên khó khăn hơn (x. GS, 61). Các Kitô hữu phải là những người đầu tiên dấn thân thực hiện sự thống nhất khôn ngoan ấy, trước hết ngay trong chính bản thân mình. Dù đã nhận được từ Mặc Khải những câu trả lời cho các vấn nạn lớn của cuộc sống, họ không vì thế mà được miễn trừ khỏi việc kiên trì đào luyện trí tuệ và văn hóa. Trái lại, kiến thức nhân văn và khoa học của họ phải tiến triển song song với nội dung đức tin, những nội dung cần được đào sâu không ngừng theo tuổi tác và trình độ học vấn. Công đồng đặc biệt đưa ra lời kêu gọi dành cho các nhà thần học: “Những ai chuyên tâm nghiên cứu các khoa học thần học” hãy cố gắng cộng tác với những người xuất sắc trong các ngành khoa học khác, cùng nhau chia sẻ năng lực và quan điểm của mình. Trong khi theo đuổi việc hiểu biết sâu xa chân lý được mặc khải, công trình nghiên cứu thần học đừng bỏ qua việc tiếp xúc với thời đại của mình, để có thể giúp những người có chuyên môn trong các lĩnh vực tri thức khác nhau đạt tới sự hiểu biết đầy đủ hơn về đức tin” (GS, 62).
Đức Thánh cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, Hiến chế Gaudium et spes nhắc nhở chúng ta đừng sống đức tin trong tinh thần đối lập hay thù nghịch với thế giới, với văn hóa và những biểu hiện nhân văn của văn hóa. Trái lại, Hiến chế khuyến khích chúng ta như sau: “Vì thế, các tín hữu hãy sống trong sự hiệp nhất hết sức chặt chẽ với những người đương thời, và hãy cố gắng thấu hiểu sâu sắc cách suy nghĩ và cảm nhận của họ, như được diễn tả qua văn hóa” (GS, 62). Thật vậy, đạt tới một sự tổng hợp trưởng thành và có trách nhiệm giữa đức tin và văn hóa là điều kiện cần thiết để kiên vững trong ơn gọi Kitô hữu. Đồng thời, đây cũng là một đòi hỏi không thể thiếu để làm chứng cho đức tin trước thế giới và truyền đạt đức tin cho người khác một cách đáng tin cậy.
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau bài huấn giáo bằng tiếng Ý trên đây của Đức Thánh cha, các độc viên lần lượt tóm tắt bằng chín ngôn ngữ khác nhau, kèm theo những lời chào thăm và nhắn nhủ của ngài.
Khi chào bằng tiếng Pháp, Đức Thánh cha nói: “Tôi thân ái chào các khách hành hương nói tiếng Pháp đến từ Bỉ, Canada và Pháp. Tôi mời gọi mỗi người trong anh chị em làm phong phú thêm sự đào luyện nhân bản, thiêng liêng và văn hóa của mình, để góp phần làm cho sứ điệp Tin mừng được nhập thể và truyền đạt trong chính môi trường sống của mình. Tôi hết lòng ban phép lành cho anh chị em!”
Với các tín hữu nói tiếng Anh, Đức Thánh cha nói: “Tôi nồng nhiệt chào đón tất cả các khách hành hương và khách tham quan nói tiếng Anh tham dự buổi tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là những người đến từ Anh, Ireland, Đan Mạch, Thụy Điển, Ghana, Nhật Bản, Jordan, Lào, Pakistan, Philippines, Canada và Hoa Kỳ.
Cách riêng, tôi chào các thành viên của Nhóm Giới trẻ thuộc Giáo phận Samoa-Pago Pago đang thực hiện cuộc hành hương đến Rôma và Assisi. Tôi khẩn cầu niềm vui và bình an của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuống trên từng người trong anh chị em và gia đình anh chị em. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!”
Sau khi chào thăm các tín hữu nói tiếng Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức Thánh cha nói với các tín hữu Ba Lan: “Tôi thân ái chào các tín hữu Ba Lan. Anh chị em đang cử hành Năm kính Chân phước Elisabeth Czacka, người đã can đảm đón nhận tình trạng khuyết tật của mình và, qua việc thành lập nhiều công trình phục vụ, đã trở thành “người mẹ mù của những người mù”. Xin cho hội dòng do ngài sáng lập, chuyên dâng những việc đền tạ Thiên Chúa vì tình trạng mù lòa thiêng liêng của thế giới, củng cố chứng tá của chúng ta, để nhiều người được nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ngợi khen Đức Giêsu Kitô!”
Sau cùng bằng tiếng Ý, Đức Thánh cha nói: “Tôi thân ái gửi lời chào đến các khách hành hương nói tiếng Ý, cách riêng là các linh mục thuộc Giáo phận Teramo-Atri, các tín hữu đến từ San Martino in Pensilis, Giugliano in Campania, Forio, Teramo và Villammare. Tôi cũng xin chào nhóm “CISL Abruzzo e Molise”, các quân nhân thuộc Bộ Tư lệnh Hạm đội Hải quân số IV và Trường Sacra Famiglia tại Martinengo. Sau cùng, tôi hướng tâm tình đến các bạn trẻ, những người đau yếu và các đôi tân hôn.
Chỉ còn ít ngày nữa là đến lễ trọng kính Các Thánh Nam Nữ. Tôi mời gọi anh chị em hãy hướng nhìn về đoàn người đông đảo vô cùng ấy, gồm những người nam và người nữ đang hiện diện trước chúng ta như dấu chỉ mang tính ngôn sứ về sự sống đời sau. Sự sống ấy đã khởi đầu ngay từ đời này, qua những nỗ lực dấn thân và chứng tá Kitô giáo trong cuộc sống trần thế. Tôi ban phép lành cho tất cả anh chị em.
