Tiếp kiến chung của Đức Thánh cha: Tham dự tích cực trong Phụng vụ sẽ dẫn chúng ta vào tương quan với Thiên Chúa
Lúc 10 giờ sáng, thứ Tư ngày 26 tháng Tám năm 2026, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến chung gần sáu ngàn tín hữu hành hương bên trong Đền thờ Thánh Phêrô.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Đức Thánh cha dành 15 phút để bắt tay chào các tín hữu đứng dọc theo lối đi từ dưới tiến lên bàn thờ, trước khi bắt đầu buổi tiếp kiến. Hiện diện trong buổi tiếp kiến cũng có Đức Hồng y Du Hưng Thực, người Hàn Quốc, tổng trưởng Bộ Giáo sĩ và ba giá mục khác.
Như thường lệ, buổi tiếp kiến được mở đầu với phần lắng nghe lời Chúa được các độc viên công bố bằng chín thứ tiếng, như Ý, Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, tiếng Hoa và Arập, qua đoạn Sách thánh trích từ đoạn 10 của Thư gửi tín hữu Do thái (Dt 10,8-10):
Sau khi nói: “Chúa đã chẳng muốn, chẳng ưa hy lễ và lễ vật, lễ toàn thiêu và lễ đền tội” - những lễ vật được dâng theo Lề Luật - Người nói tiếp: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Như vậy, Người bãi bỏ điều thứ nhất để thiết lập điều thứ hai. Chính nhờ ý muốn đó mà chúng ta được thánh hóa, nhờ việc Đức Giêsu Kitô hiến dâng thân mình, một lần là đủ.
Huấn giáo
Trong bài huấn giáo tiếp đó, Đức Thánh cha tiếp tục loạt bài về Công đồng chung Vatican II, với Hiến chế Sacrosanctum Concilium về Phụng vụ trong mầu nhiệm của Giáo hội. Bài thứ tám lần này cũng là bài cuối về Hiến chế này và có đề tài là: “Những lý do cải tổ phụng vụ”.
Đức Thánh cha nói: “Anh chị em thân mến!
Trong bài giáo lý cuối cùng này về Hiến chế Sacrosanctum Concilium, hôm nay tôi muốn dừng lại để nói về những lý do khiến các Nghị phụ Công đồng muốn thúc đẩy một cuộc cải tổ phụng vụ. Về phương diện này, Bức thư thứ ba từ Công đồng mà Đức Hồng y Giovanni Battista Montini, khi ấy là Tổng giám mục Milano, gửi cho các tín hữu của Giáo phận của ngài ngày 28 tháng Mười năm 1962, mang lại cho chúng ta một ánh sáng rất hữu ích. Đức Hồng y viết: Phụng vụ “là sự diễn tả chân thành cả điều thuộc về Thiên Chúa lẫn điều thuộc về con người. Đó là ngôn ngữ. Một đàng, phụng vụ là phương tiện chuyển tải giáo huấn của Thiên Chúa; đàng khác, là tiếng nói của cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Rõ ràng phụng vụ không thể từ bỏ chức năng giáo huấn của mình, và không thể không trao cho đức tin và lòng đạo đức khả năng diễn tả chính mình một cách dễ hiểu và tự phát”.[1] Được những xác tín ấy thúc đẩy, vị Giáo hoàng tương lai, thánh Phaolô VI, khẳng định rằng các tín hữu “không thể và không được tiếp tục im lặng và thụ động. Sự hiện diện thể lý của họ không thể đi đôi với sự vắng mặt về mặt thiêng liêng”.[2]
Hiển nhiên những lời tuyên bố này rất phù hợp với những điều sau đó sẽ xuất hiện ở số 48 của Hiến chế Công đồng: “Giáo hội hết sức quan tâm để các tín hữu không tham dự vào mầu nhiệm đức tin này như những người xa lạ hay những khán giả im lặng, nhưng nhờ các nghi lễ và lời nguyện mà hiểu rõ mầu nhiệm ấy, tham dự vào hành động thánh một cách ý thức, đạo đức và tích cực; được Lời Chúa đào luyện; được nuôi dưỡng tại bàn tiệc Mình Chúa; dâng lời tạ ơn Thiên Chúa; dâng hiến lễ vật tinh tuyền, không chỉ qua tay vị tư tế mà còn cùng với ngài, học biết dâng chính mình; và ngày qua ngày, nhờ Đức Kitô là Đấng Trung Gian, được hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau”. Qua những lời này, chúng ta nhận thấy một nhận thức được đổi mới về giá trị của phụng vụ. Qua các hành động nghi lễ của Giáo hội, trong khi việc tưởng niệm công trình cứu độ được cử hành, con người có khả năng sống mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, bước vào sự tiếp xúc với biến cố cứu độ. Vì những cử chỉ và lời nói của phụng vụ thánh có tính quyết định để thực hiện kinh nghiệm này, nên sự tham dự của các tín hữu không thể là thụ động.
Khi đặt vào trung tâm điều làm nên cốt lõi của kinh nghiệm Giáo hội, cuộc cải tổ do Công đồng thực hiện đã muốn làm cho phụng vụ tỏa sáng như “nguồn mạch đầu tiên của sự trao đổi thần linh, trong đó sự sống của Thiên Chúa được thông ban cho chúng ta”.[3] Chính từ xác tín này phát sinh nhu cầu làm cho sự phong phú của các bản văn Kinh Thánh và các lời nguyện trở nên dễ tiếp cận hơn đối với tất cả các tín hữu, đồng thời làm cho trật tự của việc cử hành được mạch lạc hơn so với trật tự được quy định trong các sách phụng vụ đang được sử dụng vào thời đó.
Thật vậy, vì phụng vụ là một thực tại sống động, nên qua các thế kỷ, phụng vụ luôn trải qua những phát triển và thay đổi. Huấn quyền đã thích nghi các hình thức phụng vụ với những nhu cầu của các thời đại khác nhau. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Công đồng Vaticanô II, với sự tôn trọng cao nhất đối với kho tàng truyền thống, và chính nhằm làm cho kho tàng ấy trở nên dễ tiếp cận hơn, đã nhận thấy cần phải duyệt lại các sách phụng vụ.
Mục tiêu mà các Nghị phụ Công đồng quan tâm được nêu rõ trong số 21 của Hiến chế Sacrosanctum Concilium: “Để dân Kitô giáo được hưởng dồi dào hơn các ân sủng mà phụng vụ thánh chứa đựng, Mẹ Giáo hội muốn thực hiện một cuộc cải tổ tổng quát phụng vụ cách cẩn thận. Bởi vì phụng vụ gồm một phần bất biến, vì được thiết lập bởi Thiên Chúa, và những phần có thể thay đổi, là những phần qua dòng thời gian có thể, hay thậm chí phải, được thay đổi, nếu trong đó có những yếu tố không còn phù hợp với bản chất thâm sâu của chính phụng vụ, hoặc những phần ấy không còn thích hợp nữa. Trong cuộc cải tổ này, việc sắp xếp các bản văn và nghi lễ phải được thực hiện thế nào để các thực tại thánh mà chúng biểu thị được diễn tả rõ ràng hơn, và để dân Kitô giáo có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa của chúng hơn, đồng thời có thể tham dự vào đó bằng một cuộc cử hành trọn vẹn, tích cực và mang tính cộng đoàn”. Từ Thông điệp Mediator Dei của Đức Giáo hoàng Piô XII, đã có sự phân biệt trong phụng vụ giữa những yếu tố thuộc về Thiên Chúa, bất biến, và những yếu tố thuộc về con người, vốn “có thể chịu những thay đổi khác nhau, được Hàng Giáo phẩm thánh thiện, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, chấp thuận tùy theo những đòi hỏi của thời đại, của hoàn cảnh và của các tâm hồn” (Acta Apostolicae Sedis 39, 1947, 541-542).
Hơn nữa, mong muốn về một “cuộc cải tổ tổng quát” không phải đột nhiên mới xuất hiện, nhưng đã được thể hiện qua hoạt động của các vị Giáo hoàng kế tiếp nhau ngay từ đầu thế kỷ 20, hòa hợp với những đòi hỏi của Phong trào Phụng vụ. Việc khẳng định sự cần thiết để các tín hữu không tham dự các buổi cử hành “như những người xa lạ hay những khán giả câm lặng” vốn đã được Đức Piô XI nhắc lại trong Tông hiến Divini Cultus. Ngoài ra, có thể kể đến những can thiệp của Đức Piô XII liên quan đến việc sắp xếp các nghi lễ của Tuần Thánh. Ngài đã đưa các nghi lễ này trở lại những giờ tương ứng với các biến cố Phục sinh, sau khi trong nhiều thế kỷ chúng đã được cử hành vào các giờ buổi sáng. Cũng không được quên rằng thánh Gioan XXIII nhận thấy cần phải đơn giản hóa các chữ đỏ trong Sách Kinh Nhật tụng và Sách Lễ, và đã phê chuẩn việc này bằng Tự sắc Rubricarum instructum ngày 25 tháng Bảy năm 1960. Trong đó, ngài quy hướng việc đề xuất những nguyên tắc nền tảng cho một cuộc cải tổ phụng vụ về Công đồng Chung đã được loan báo.
Như vậy, cuộc cải tổ phụng vụ do Công đồng Vatican II thúc đẩy nằm trong dòng chảy của truyền thống sống động của Giáo hội. Việc hiểu đúng về cuộc cải tổ này cũng cho phép chúng ta loại bỏ những lạm dụng đã xảy ra trong một số lãnh vực của Giáo hội trong thời kỳ hậu Công đồng, và đáng tiếc là đôi khi cho đến ngày nay vẫn còn xảy ra, do một số nguyên tắc vốn nằm ở nền tảng của chính cuộc cải tổ đã bị tuyệt đối hóa hoặc hiểu sai. Về điểm này, đáng nhắc lại rằng Hiến chế Công đồng khẳng định: “Các hành động phụng vụ không phải là những hành động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo hội, là “bí tích của sự hiệp nhất”, nghĩa là dân thánh được quy tụ và tổ chức dưới sự hướng dẫn của các giám mục. Vì thế, các hành động ấy thuộc về toàn thân thể Giáo hội, biểu lộ toàn thân thể ấy và tác động đến toàn thân thể ấy” (Sacrosanctum Concilium, số 26).
Và Đức Thánh cha kết luận rằng: “Vì thế, trách nhiệm trước hết thuộc về các mục tử, các Giám mục, nhưng cũng thuộc về từng linh mục, là gìn giữ và cổ võ một nền phụng vụ, trong khi tôn trọng các quy tắc phụng vụ, phải tỏa sáng bởi sự cao quý trong nét đơn sơ (x. số 34), và như thế biểu lộ Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Một nền phụng vụ như thế cũng sẽ là một phương thế nền tảng cho việc loan báo Tin mừng, là khí cụ của ân sủng, qua đó, như Công đồng dạy, chúng ta có thể học biết dâng hiến chính mình và, nhờ Đức Kitô là Đấng Trung Gian, được hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau (x. số 48).
[1] G. B. Montini, “Thư thứ ba từ Công đồng”, Rivista Diocesana Milanese 51 (1962), 921-923: 922.
[2] Ibid. (Như trên).
[3] Bế mạc trọng thể Khóa họp II của Công đồng, Diễn từ của Đức Thánh Cha Phaolô VI (ngày 4 tháng 12 năm 1963).
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý trên đây của Đức Thánh cha, các độc viên lần lượt tóm tắt bằng chín thứ tiếng khác nhau kèm theo những lời chào thăm và nhắn nhủ của ngài.
Bắt đầu bằng tiếng Pháp, Đức Thánh cha nói: “Tôi thân ái chào các khách hành hương nói tiếng Pháp, đặc biệt là các tín hữu thuộc cuộc hành hương liên giáo phận của Senegal. Tôi mời gọi anh chị em mở rộng tâm hồn và trí tuệ trước mầu nhiệm được Giáo hội trình bày trong suốt diễn tiến của phụng vụ; nhờ đó, qua sự tham dự tích cực của mình, anh chị em biểu lộ sự biến đổi nội tâm được thực hiện nhờ các nghi thức, cử chỉ, bài hát và những giây phút thinh lặng. Tất cả những điều ấy cùng nhau mặc khải sự hiện diện sống động của Đức Kitô. Tôi thành tâm ban phép lành cho anh chị em!”
Tiếp đến là tiếng Anh, ngài nói: “Tôi thân ái chào tất cả các khách hành hương và du khách nói tiếng Anh đang tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là các nhóm đến từ Malta, Senegal và Canada. Tôi cũng gửi lời chào đặc biệt đến những người đang phục vụ tại các Văn phòng Quốc gia của Hội Giáo hoàng Truyền giáo. Tôi khẩn cầu niềm vui và bình an của Chúa Giêsu Kitô xuống trên anh chị em và gia đình anh chị em. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!
Với các tín hữu Ba Lan, Đức Thánh cha nói: “Tôi thân ái chào các tín hữu Ba Lan. Tôi hiệp thông trong tinh thần với tất cả những ai đang hiện diện tại Czestochowa, nơi hôm nay, sau 70 năm, “Những Lời khấn Jasna Góra của Dân tộc Ba Lan” được nhắc lại và canh tân. Những lời khấn này do Đức Hồng y Stefan Wyszynski soạn thảo trong thời gian ngài bị giam cầm. Ước gì chương trình canh tân luân lý xã hội được chứa đựng trong những lời khấn ấy - qua việc bảo vệ sự sống con người, chăm lo cho hôn nhân và gia đình, cũng như giáo dục trẻ em và người trẻ - tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho những nỗ lực nhằm xây dựng công lý và tình huynh đệ. Tôi ban phép lành cho tất cả anh chị em!
Đức Thánh cha cũng chào các tín hữu bằng các thứ tiếng khác nữa, như tiếng Đức, tiếng Hoa, Arập, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Arập, Đức Thánh cha ngỏ lời bằng tiếng Ý:
“Tôi thân ái chào mừng các khách hành hương nói tiếng Ý. Đặc biệt, tôi chào các Giám đốc Giáo phận của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, những người tham dự cuộc gặp gỡ mùa hè dành cho các chủng sinh, các vị khách của Nhà lưu trú “Regina coelorum” ở Santa Marinella, cùng các nhóm giáo xứ khác nhau.
Tôi cũng chào các em đã lãnh nhận Bí tích Thêm sức thuộc Giáo phận Chiavari, cùng với Đức giám mục của các em. Các con thân mến, qua Bí tích Thêm sức, các con đã lãnh nhận món quà cao quý nhất là Chúa Thánh Thần: đó không phải là một kho tàng để các con giấu kín, nhưng là một ánh sáng mà các con phải làm cho tỏa sáng mỗi ngày.
Sau cùng, tôi nghĩ đến các bạn trẻ, những người đau yếu và các đôi vợ chồng mới cưới. Ngày mai và ngày kia (27 và 28 tháng Tám), phụng vụ tưởng niệm hai vị đại thánh, thánh Mônica và thánh Augustinô, những người được liên kết với nhau dưới thế bởi mối dây gia đình và trên trời bởi cùng một định mệnh vinh quang. Ước gì gương sáng của các ngài khơi dậy nơi mỗi người một cuộc tìm kiếm chân thành và say mê đối với Chân lý của Tin mừng, để chúng ta có thể vui mừng làm chứng cho Chân lý ấy trong đời sống hằng ngày.
