Đức Thánh cha tiếp kiến Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh
Sáng thứ Sáu, ngày 09 tháng Giêng vừa qua, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh. Trong dịp này, Đức Thánh cha bày tỏ lập trường của Tòa Thánh trước những điểm nóng trên thế giới, đồng thời đưa ra những lời kêu gọi nhắm tái lập hòa bình giữa các dân nước, bảo vệ các quyền con người, bắt đầu là quyền sống, và công pháp quốc tế về nhân đạo. Đức Thánh cha không quên nhắc đến những cố gắng cải tiến những tương quan giữa Tòa Thánh và Việt Nam.
G. Trần Đức Anh, O.P. | RVA
Buổi tiếp kiến diễn ra tại Hội trường Phép lành, ở lầu trên phía cuối Đền thờ Thánh Phêrô giống như những năm trước đây.
Hiện diện trong buổi tiếp kiến lúc 10 giờ, có đại diện của 184 quốc gia và một số tổ chức quốc tế có tương quan với Tòa Thánh trên cấp đại sứ, cùng với đại diện của chính quyền Palestine. Ngoài ra, cũng có đại diện của Liên hiệp Âu châu và Hội Hiệp sĩ Malta. Trong số các vị hiện diện, có 95 vị đại sứ thường trú. Ngoài ra, các vị đại sứ khác từ các nhiệm sở ở Âu châu cũng đến Vatican trong dịp này.
Về phía Tòa Thánh, có Đức Hồng y Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Đức Tổng giám mục Edgar Peña Parra, Phụ tá Quốc vụ khanh và Đức Tổng giám mục Ngoại trưởng Paul Gallagher, cùng với các vị Phó tổng thư ký của mỗi phân bộ và một số viên chức khác.
Mở đầu cuộc gặp gỡ, Đại sứ Cộng hòa Cipro cạnh Tòa Thánh, ông George Poulides, Niên trưởng đoàn Ngoại giao, đã đại diện mọi người chúc mừng Đức Thánh cha Lêô XIV nhân dịp đầu năm mới và nhắc đến sự kiện Đức Thánh cha được bầu làm Giáo hoàng, kế nhiệm Đức Phanxicô, cũng như những hoạt động nổi bật của ngài đã mang lại những hướng đi cho cộng đồng các dân nước. Ông làm đại sứ cạnh Tòa Thánh từ 21 năm nay.
Diễn văn của Đức Thánh cha
Trong diễn văn, Đức Thánh cha nồng nhiệt cám ơn Đại sứ của Cipro, Niên trưởng đoàn Ngoại giao và gửi đến tất cả những lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Ngài nói thêm rằng: “Cuộc gặp gỡ truyền thống này mang ý nghĩa đặc biệt đối với tôi, vì chỉ mới vài tháng trước đây tôi được kêu gọi đảm nhận sứ vụ người Kế vị Thánh Phêrô.
Năm vừa qua là một năm đầy biến cố đối với Giáo hội và thế giới. Giáo hội đã sống Năm Thánh sâu sắc, đồng thời tiễn đưa Đức cố Giáo hoàng Phanxicô về Nhà Cha. Hình ảnh toàn thế giới quy tụ bên linh cữu ngài cho thấy nhân loại cảm nhận sự mất mát của một người cha đã dẫn dắt Dân Chúa bằng tình yêu mục tử lớn lao. Trong Năm Thánh, hàng triệu tín hữu hành hương về Rôma, mang theo những niềm vui, hy vọng nhưng cũng cả những đau khổ và thương tích của mình, để bước qua Cửa Thánh - dấu chỉ của chính Đức Kitô, Đấng chữa lành và ban hy vọng.
Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với người dân Rôma và chính quyền Ý vì sự đón tiếp tận tình, tinh thần trách nhiệm và hợp tác trong việc tổ chức các sự kiện Năm Thánh. Mối tương quan giữa Tòa Thánh và Ý tiếp tục được củng cố nhờ nền tảng lịch sử, văn hóa và đức tin chung, cũng như qua những thỏa thuận song phương gần đây, thể hiện cam kết chung đối với con người và công trình tạo dựng.
Trong năm qua, tôi cũng có dịp thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Liban. Tại Iznik, tôi cùng với Đức Thượng phụ Đại kết Constantinople tưởng niệm 1.700 năm Công đồng Chung Nicea I, tái khẳng định dấn thân cho sự hiệp nhất hữu hình của các Kitô hữu. Tại Liban, tôi gặp gỡ một dân tộc đầy đức tin và nghị lực, nhất là giới trẻ, những người khao khát xây dựng một xã hội công bằng và hòa hợp.
Khi suy tư về thời đại chúng ta, tôi muốn gợi lại tư tưởng của Thánh Augustinô trong tác phẩm Thành phố của Thiên Chúa. Thánh nhân phân biệt giữa “thành phố trần thế” và “thành phố của Thiên Chúa”, hai thực tại cùng tồn tại trong lịch sử. Thành phố trần thế dễ bị chi phối bởi kiêu căng, quyền lực và ích kỷ; còn thành phố của Thiên Chúa được xây dựng trên tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân. Mỗi con người đều có trách nhiệm đối với lịch sử, được mời gọi sống giữa trần thế nhưng hướng lòng về quê hương vĩnh cửu.
Chủ nghĩa đa phương suy yếu
Đức Thánh cha nói: “Trong thời đại của chúng ta, sự suy yếu của chủ nghĩa đa phương là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan ngại ở cấp độ quốc tế. Một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bởi một nền ngoại giao dựa trên sức mạnh, dù là của các cá nhân hay các nhóm đồng minh. Chiến tranh đang trở lại như một xu thế, và tinh thần hiếu chiến đang lan rộng. Nguyên tắc được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, vốn cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của nước khác, đã bị xói mòn hoàn toàn. Hòa bình không còn được tìm kiếm như một ân huệ và một thiện ích tự thân đáng khao khát, hay trong việc theo đuổi “việc thiết lập một trật tự vũ trụ theo thánh ý Thiên Chúa, với một hình thức công lý hoàn hảo hơn giữa con người với nhau”. Thay vào đó, hòa bình được tìm kiếm thông qua vũ khí, như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của chính mình. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến pháp quyền, vốn là nền tảng của mọi sự chung sống dân sự hòa bình.”
Tầm quan trọng của công pháp quốc tế về nhân đạo
Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng: “Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế. Việc tuân thủ luật này không thể phụ thuộc vào hoàn cảnh nhất thời hay các lợi ích quân sự và chiến lược. Ngoài việc bảo đảm một mức độ nhân đạo tối thiểu giữa những tàn phá của chiến tranh, luật nhân đạo còn là một cam kết mà các quốc gia đã tự nguyện thực hiện. Luật này phải luôn được đặt lên trên các tham vọng của các bên tham chiến, nhằm giảm thiểu những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, đồng thời hướng tới việc tái thiết. Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng việc phá hủy bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà ở và những địa điểm thiết yếu cho đời sống hằng ngày cấu thành những vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa Thánh kiên quyết tái khẳng định sự lên án của mình đối với mọi hình thức lôi kéo dân thường vào các hoạt động quân sự. Đồng thời, Tòa Thánh hy vọng cộng đồng quốc tế sẽ ghi nhớ rằng việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và sự thánh thiêng của sự sống luôn quan trọng hơn bất kỳ lợi ích quốc gia thuần túy nào.
Bênh vực quyền tự do lương tâm và tôn giáo
Đức Thánh cha cũng tố giác hiện tượng hạn chế một số quyền tự do và nói rằng: “Chúng ta cũng cần lưu ý đến nghịch lý rằng sự suy yếu của ngôn ngữ thường được viện dẫn nhân danh chính tự do ngôn luận. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ lưỡng, điều ngược lại mới đúng, bởi tự do ngôn luận và biểu đạt được bảo đảm chính nhờ sự xác định rõ ràng của ngôn ngữ và việc mỗi thuật ngữ đều được neo chặt vào chân lý. Thật đau lòng khi chứng kiến, đặc biệt tại phương Tây, không gian cho tự do ngôn luận đích thực đang nhanh chóng bị thu hẹp. Đồng thời, một kiểu ngôn ngữ mới mang màu sắc Orwell đang hình thành; trong nỗ lực trở nên ngày càng “bao hàm”, nó lại kết cục là loại trừ những người không tuân theo các hệ tư tưởng đang nuôi dưỡng nó.
“Đáng tiếc thay, điều này dẫn đến những hệ quả khác, làm hạn chế các quyền con người cơ bản, bắt đầu từ tự do lương tâm. Trong bối cảnh này, quyền phản kháng theo lương tâm cho phép cá nhân từ chối những nghĩa vụ pháp lý hoặc nghề nghiệp mâu thuẫn với các nguyên tắc luân lý, đạo đức hoặc tôn giáo đã ăn sâu trong đời sống cá nhân của họ. Điều này có thể là việc từ chối nghĩa vụ quân sự nhân danh bất bạo động, hoặc việc các bác sĩ và nhân viên y tế từ chối tham gia vào những thực hành như phá thai hay trợ tử. Phản kháng theo lương tâm không phải là sự nổi loạn, mà là một hành vi trung thành với chính mình. Trong thời điểm lịch sử này, tự do lương tâm dường như ngày càng bị các quốc gia đặt dấu hỏi, kể cả những quốc gia tự nhận là dựa trên nền tảng dân chủ và nhân quyền. Tuy nhiên, chính tự do này thiết lập sự cân bằng giữa lợi ích tập thể và phẩm giá cá nhân. Nó cũng nhấn mạnh rằng một xã hội thực sự tự do không áp đặt sự đồng nhất, mà bảo vệ sự đa dạng của các lương tâm, ngăn chặn các khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú thêm cấu trúc xã hội.
Tương tự như vậy, tự do tôn giáo cũng đang có nguy cơ bị thu hẹp. Như Đức Bênêđictô XVI đã nhắc nhớ, đây là quyền đầu tiên trong mọi quyền con người, bởi vì nó diễn tả thực tại căn bản nhất của con người. Những số liệu gần đây cho thấy các vi phạm tự do tôn giáo đang gia tăng, và sáu mươi bốn phần trăm dân số thế giới đang phải chịu những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền này.
Nạn bách hại Kitô
Đức Thánh cha nhấn mạnh rằng: “Tuy nhiên, không thể bỏ qua thực tế rằng việc bách hại các Kitô hữu vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín hữu trên toàn thế giới. Họ phải chịu mức độ phân biệt đối xử, bạo lực và đàn áp cao hoặc cực đoan chỉ vì đức tin của mình. Hiện tượng này tác động đến khoảng một trong bảy Kitô hữu trên toàn cầu, và đã trở nên trầm trọng hơn vào năm 2025 do các xung đột kéo dài, các chế độ độc đoán và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Đáng buồn thay, tất cả những điều này cho thấy rằng trong nhiều bối cảnh, tự do tôn giáo được xem như một “đặc ân” hay sự nhượng bộ, hơn là một quyền con người nền tảng.
Bênh vực gia đình và sự sống
Tiếp tục bài diễn văn, Đức Thánh cha đề cập đến việc bênh vực gia đình và sự sống:
“Dưới ánh sáng của tầm nhìn sâu sắc coi sự sống là một hồng ân cần được trân quý, và gia đình là người gìn giữ có trách nhiệm đối với hồng ân ấy, chúng tôi dứt khoát bác bỏ mọi thực hành phủ nhận hoặc khai thác nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của nó. Trong số đó có phá thai, hành vi chấm dứt một sự sống đang lớn lên và từ chối đón nhận hồng ân sự sống. Liên quan đến vấn đề này, Tòa Thánh bày tỏ mối quan ngại sâu sắc trước các dự án nhằm tài trợ cho việc di chuyển xuyên biên giới với mục đích tiếp cận cái gọi là “quyền phá thai an toàn”. Tòa Thánh cũng coi là đáng lên án việc các nguồn lực công bị phân bổ để triệt tiêu sự sống, thay vì được đầu tư để hỗ trợ các bà mẹ và gia đình. Mục tiêu hàng đầu phải luôn là bảo vệ mọi trẻ em chưa chào đời và sự hỗ trợ hiệu quả, cụ thể cho mọi phụ nữ, để họ có thể đón nhận sự sống.
Tương tự như vậy, còn có thực hành mang thai hộ. Bằng việc biến quá trình mang thai thành một dịch vụ có thể thương lượng, thực hành này xâm phạm phẩm giá của cả đứa trẻ, khi em bị hạ thấp thành một “sản phẩm”, lẫn người mẹ, khi thân thể và khả năng sinh sản của bà bị khai thác, đồng thời làm bóp méo ơn gọi tương quan nguyên thủy của gia đình.
Sau cùng, Đức Thánh cha nhắc đến Việt Nam và nói: “Tôi cũng xin nhắc lại những nỗ lực mà trong những năm gần đây, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhằm cải thiện tương quan với Tòa Thánh và các điều kiện hoạt động của Giáo hội tại quốc gia này. Tất cả những điều đó là những hạt giống của hòa bình cần được tiếp tục vun trồng.”
Sau diễn văn của Đức Thánh cha, các vị đại sứ lần lượt tiến lên bắt tay chào Đức Thánh cha, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh và ba vị Tổng giám mục thuộc Phủ này.
(Sala Stampa 9-1-2026)